Xét nghiệm nước tiểu phát hiện ung thư thận

Các nhà khoa học Mỹ vừa tìm thấy dấu vết ADN của tế bào ung thư thận trong nước tiểu. Như vậy, việc chẩn đoán căn bệnh chết người thầm lặng này chẳng bao lâu sẽ trở nên cực kỳ đơn giản và nhanh chóng, chỉ qua xét nghiệm nước tiểu.

Thông thường, việc xác định bệnh nhân ung thư thận được thông qua sự hiện diện của máu trong nước tiểu. Song thực tế là nước tiểu còn mang theo cả ADN của tế bào ung thư, nhóm nghiên cứu đến từ Trung tâm ung thư Fox Chase, Mỹ, khẳng định tại hội nghị thường niên của Hiệp hội Niệu học tại San Francisco. Khi xét nghiệm nước tiểu của 50 bệnh nhân ung thư thận, họ đã tìm thấy ADN ung thư trong 44 người. Những ADN này hoàn toàn biến mất khi người bệnh được chữa trị.

Theo tiến sĩ Robert Uzzo, thành viên nhóm nghiên cứu, độ chính xác của việc chẩn đoán ung thư thận qua xét nghiệm nước tiểu là tương đối cao. Kiểu chẩn đoán này không bao giờ cho kết quả "dương tính giả" - nghĩa là không bao giờ người khỏe mạnh bị kết luận là có bệnh. Một thế mạnh khác của xét nghiệm bằng nước tiểu là khả năng phân loại rõ ràng các giai đoạn phát triển bệnh, theo đó bác sĩ có thể biết chính xác mức độ tiến triển của bệnh nhân trong quá trình điều trị. Phương pháp chẩn đoán đơn giản này sẽ sớm được phát triển để áp dụng cho bệnh nhân ung thư tuyến tiền liệt.

Phát hiện trên được xem là một tin tốt lành đối với số bệnh nhân ung thư thận đang ngày một gia tăng hiện nay. Theo Tổ chức Y tế Thế giới, tỷ lệ mắc bệnh tương đối chệnh lệch giữa các quốc gia, trong đó những nước Tây Âu phồn thịnh có nhiều ca bệnh hơn các nước đang phát triển. Chính vì vậy, nguyên nhân phát triển bệnh, theo nhóm nghiên cứu, có thể do lối sống, thói quen hút thuốc lá, bệnh béo phì. Giống như bất kỳ căn bệnh ung thư nào, cơ hội chữa khỏi ung thư thận sẽ rất cao nếu bệnh nhân được phát hiện và điều trị sớm. Còn một khi tế bào ung thư đã xâm lấn sang các tổ chức khác thì cơ hội sống sót là không đáng kể.
Read more…

Xét nghiệm mới giúp phát hiện ung thư thực quản

Bệnh nhân Alan Bridge ấn tượng với phương pháp xét nghiệm mới
Các nhà khoa học thuộc Trường Đại Học Cambridge, Anh quốc vừa tìm ra một cách thức xét nghiệm bệnh ung thư thực quản vô cùng đơn giản.

Cho đến bây giờ, người ta thường dùng một cái ống trong có máy quay phim để phát hiện dấu hiệu của căn bệnh này. Nhưng phương pháp này tốn kém và khá nguy hiểm.

Bác sĩ Rebecca Fitzgerald, thuộc Hội Đồng nghiên cứu y học, phát minh ra một thiết bị rất đơn giản. Nó gồm một viên thuốc có thể thẩm thấu gắn với một sợi dây. Khi viên thuốc được nuốt vào thực quản, cô Fitzgerald kéo nhẹ viên thuốc cho nó nạo lớp tế bào ở vách ruột của bệnh nhân. Sau đó, sợi dây và viên thuốc được kéo ra để xét nghiệm.

Alan Bridge, bệnh nhân đầu tiên được thử nghiệm phương pháp mới này cho biết: "Tôi không hề cảm thấy khó chịu hay đau đớn khi nuốt viên thuốc".

Ung thư thực quản phát triển rất nhanh ở những nước phương Tây trong những năm gần đây và giết hại mỗi năm trên bảy ngàn người.

Bệnh ung thư thực quản với triệu chứng ợ ra hơi nóng gia tăng 350% trong vòng 2 thập niên. Sự gia tăng bệnh này có thể do áp lực của nếp sinh hoạt hiện đại vội vã và căng thẳng tạo ra.
Read more…

Xét nghiệm PSA giảm tử vong do ung thư tuyến tiền liệt

Nam giới được sàng lọc giảm 21% nguy cơ tử vong do ung thư tuyến tiền liệt.

Một nghiên cứu châu Âu báo cáo rằng nam giới được xét nghiệm kháng nguyên đặc hiệu tuyến tiền liệt (PSA) thường quy để kiểm tra các dấu hiệu ung thư tuyến tiền liệt giảm khả năng tử vong do bệnh này.

Trong nghiên cứu mới này, các nhà khoa học đã xem xét hồ sơ bệnh án của hơn 160.000 nam giới tại 8 quốc gia châu Âu.

Những người tham gia độ tuổi từ 55 - 69 tại thời điểm bắt đầu nghiên cứu. Một số được chia ngẫu nhiên để thực hiện các xét nghiệm sàng lọc PSA.

Sau thời gian trung bình là 11 năm, nam giới được sàng lọc giảm 21% nguy cơ tử vong do ung thư tuyến tiền liệt.

Các kết quả nghiên cứu được đăng trên số ra ngày 15/3 của tạp chí New England Journal of Medicine.

Tiến sĩ Anthony Miller, thuộc Trường Y tế công cộng Đại học Toronto, khuyến cáo rằng xét nghiệm PSA chỉ nên thực hiện ở nam giới có các triệu chứng rõ về ung thư tuyến tiền liệt hoặc sử dụng để theo dõi điều trị cho nam giới bị ung thư tuyến tiền liệt. Ông không khuyến nghị sàng lọc thường quy cho nam giới khỏe mạnh.
Read more…

Xét nghiệm nước tiểu giúp phát hiện ung thư tuyến tiền liệt

Các nhà khoa học tại Đại học Y Michigan (Mỹ) vừa công bố biện pháp xét nghiệm nước tiểu mới có thể giúp phát hiện ung thư tuyến tiền liệt, từ đó lựa chọn các giải pháp điều trị tốt hơn.

Tiến sỹ Scott Tomlins, trưởng nhóm nghiên cứu cho biết hiện xét nghiệm PSA (xét nghiệm máu để chẩn đoán ung thư) có thể giúp phát hiện ung thư tuyến tiền liệt. Tuy nhiên, loại xét nghiệm này không có độ tin cậy cao.


Người có PSA thấp vẫn có thể bị ung thư và người có PSA cao lại không bị ung thư. Xét nghiệm nước tiểu mới nhằm tìm kiếm 2 chỉ số về gien đi liền với ung thư là TMPRSS2:ERG và PCA3 sẽ cho kết quả tin cậy hơn vì TMPRSS2:ERG chỉ được tìm thấy trong các trường hợp bị ung thư.

Để thực hiện nghiên cứu này, tiến sỹ Tomlins và các cộng sự đã nghiên cứu mẫu nước tiểu của 1.312 nam giới có mức PSA cao và đã có xét nghiệm sinh tiết tuyến tiền liệt hoặc phẫu thuật để loại bỏ tuyến tiền liệt.

Các nhà khoa học đã xét nghiệm nước tiểu để tìm kiếm hai chỉ số TMPRSS2:ERG và PCA3, sau đó sử dụng các chỉ số này để chia số nam giới trên vào 3 nhóm có nguy cơ ung thư tuyến tiền liệt thấp, trung bình và cao. Tiếp đó, các nhà khoa học so sánh kết quả phân loại với kết quả xét nghiệm sinh tiết. Dựa trên kết quả xét nghiệm sinh tiết, ung thư tuyến tiền liệt được tìm thấy ở 21% số nam giới thuộc nhóm có nguy cơ thấp, 43% ở nhóm có nguy cơ trung bình và 69% ở nhóm có nguy cơ cao.

Các chuyên gia cũng cho biết kết quả của các xét nghiệm nước tiểu này có mối tương quan đối với kích cỡ của khối u và mức độ nguy cấp ung thư. Trong nhóm có nguy cơ thấp, chỉ 7% là bị ung thư cấp tính, trong khi tỷ lệ này của nhóm có nguy cơ cao là 40%.

Tuy nhiên, tiến sỹ Tomlins cũng cảnh báo rằng không nên chỉ dựa vào xét nghiệm này để bỏ qua việc xét nghiệm sinh tiết vì vẫn có trường hợp bị ung thư nhưng không có hai chỉ số gen TMPRSS2:ERG và PCA3. Bên cạnh đó, nghiên cứu mới được tiến hành chủ yếu đối với các bệnh nhân người da trắng, nên cần được tiếp tục nghiên cứu trên diện rộng hơn.
Read more…

Xét nghiệm tầm kiểm soát ung thư

Bạn có bao giờ nghĩ rằng những xét nghiệm định kỳ sẽ giúp bạn thoát khỏi tay tử thần không?

Bạn cũng nên được khám tinh hoàn. Dù ung thư này ít gặp và có thể điều trị khỏi. Ung thư tinh hoàn là dạng ung thư thường gặp nhất ở nam giới từ 15-35 tuổi. Nếu bạn phát hiện khối u hay thấy lớn tinh hoàn, hãy đi khám ngay.

Trước độ tuổi 50, tất cả nam giới nên tư vấn bác sĩ của họ để phát hiện ung thư tiền liệt tuyến mỗi năm bằng cách xét nghiệm PSA máu và thăm khám trực tràng bằng tay.

Đối với nam giới

Những phụ nữ nên bắt đầu xét nghiệm phết Pap smears trong vòng 3 năm khi bắt đầu có giao hợp hoặc khi ở tuổi 21. Xét nghiệm này phân tích những tế bào nằm trên bề mặt cổ tử cung để phát hiện những ung thư hoặc những bất thường ở giai đoạn tiền ung thư. Hiệp hội ung thư Hoa Kỳ khuyến cáo phụ nữ 40 tuổi trở lên nên được chụp nhũ ảnh hàng năm. Từ 20 tuổi trở lên nên khám ngực mỗi 3 năm, nhưng từ 40 tuổi trở lên thì khám mỗi năm. Khám ngực mỗi tháng nếu có u hạch hoặc rỉ nước ở đầu nhũ hoa.

Trước độ tuổi 50, tất cả nam giới nên tư vấn bác sĩ của họ để phát hiện ung thư tiền liệt tuyến mỗi năm bằng cách xét nghiệm PSA máu và thăm khám trực tràng bằng tay.

Đối với nữ giới

Khám sức khỏe toàn diện. Tùy theo tuổi của bạn mà bác sĩ có thể khám kỹ ở vùng cổ để tìm hạch sưng to (thường là do nhiễm trùng, nhưng thỉnh thoảng hạch sưng to cũng là dấu hiệu sớm của ung thư) và tuyến giáp lớn ra; khám bên trong miệng, và khám da nếu có nốt ruồi hoặc sang thương đáng nghi ngờ. Ở tuổi 50, bạn nên xét nghiệm tầm soát ung thư đại tràng và trực tràng. Hiệp hội ung thư Hoa Kỳ khuyến cáo nên chọn hai loại xét nghiệm thông dụng nhất là: xét nghiệm tìm máu ẩn trong phân hàng năm hoặc soi đại tràng sigma để tìm khối u trong trực tràng và phần thấp của đại tràng. Phối hợp hai loại trên giúp chẩn đoán chính xác hơn là chỉ dùng một xét nghiệm.

Đối với mọi đối tượng

Vậy những xét nghiệm nào bạn cần phải làm và bao lâu một lần? Đây là bảng tóm tắt của Hiệp hội ung thư Hoa Kỳ (những người có những yếu tố nguy cơ nào đó cần phải xét nghiệm nghiêm ngặt hơn).

Có một số vũ khí chống ung thư nằm trong tay thầy thuốc, nhưng những thứ vũ khí đó không phải là thuốc. Một số xét nghiệm được thực hiện đều đặn có thể phát hiện ra ung thư ở giai đoạn sớm đã nắm bắt giây phút cứu sống bệnh nhân. Bác sĩ Hurt - Giáo sư y khoa Đại học Y Mayo nói: “Phần lớn các loại ung thư đều có thể chữa được nếu phát hiện sớm”.
Read more…

Xét nghiệm chuẩn đoán ung thư từ rất sớm Cancersafe

Ung thư là sát thủ số 1, một trong “tứ chứng nan y” bởi vì nó thường được phát hiện khi có biểu hiện lâm sàng và điều trị muộn. Việc chẩn đoán thường được thực hiện sau khi bản thân bạn đã cảm nhận thấy các dấu hiệu lâm sàng như: cảm thấy một khối u ở vú, một sự chảy máu bất thường ... thì việc điều trị trở nên rất khó khăn và tiềm ẩn nhiều rủi ro. Việc phát hiện từ rất sớm các dấu hiệu tiềm ẩn của ung thư sẽ là một biện pháp dự phòng hiện đại trong việc giảm thiểu tỉ lệ tử vong, nâng cao hiệu quả điều trị. Dịch vụ chuẩn đoán ung thư sớm Cancersafe của chúng tôi ra đời nhằm đáp ứng yêu cầu trên.
Xét nghiệm Cancersafe là dạng xét nghiệm một nhóm các chỉ thị ung thư (10 chỉ thị đối với phụ nữ CEA, CA 15-3, CA 19-9, CA 125, CA 72-4, AFP, BHCG, B2M, NSE, CYFRA 21-1và 11 chỉ thị đối nam giới CEA, CA 19-9, CA 125, CA 72-4, PSA+FPSA, AFP, BHCG, B2M, NSE, CYFRA 21-1). Với kinh nghiệm nhiều năm trong nghiên cứu ung thư, các chuyên gia ung thư hàng đầu thế giới tại Pháp và Thụy Sỹ đã cho ra các thuật toán xử lý các số liệu từ các chỉ thị ung thư và đưa ra dự đoán tiềm năng bị ung thư của bệnh nhân.
Việc xét nghiệm chuẩn đoán ung thư sớm Cancersafe rất hữu ích:
1) Trong công tác dự phòng bệnh: việc phát hiện ung thư từ rất sớm giúp bảo vệ sức khỏe và mạng sống tốt hơn, làm cơ sở cho việc xây dựng chiến lược bảo vệ sức khỏe trong tương lai.
2) Trong công tác theo dõi diễn biến của bệnh: việc theo dõi sát sao các diễn biến khởi phát của căn bệnh ung thư là rất quan trọng, các dấu hiệu đó có thể tăng nhẹ hoặc trung bình trong khoảng từ 6-12 tháng trước khi các dấu hiệu ung thư lâm sàng xuất hiện.
Tại sao cần làm xét nghiệm chuẩn đoán ung thư sớm Cancersafe®?
Nhằm phát hiện các bệnh ung thư chính, xét nghiệm Cancersafe sẽ tổ hợp những chỉ thị ung thư chính đã và đang được ứng dụng rộng rãi trên thế giới. Xét nghiệm Cancersafe có thể phát hiện rất sớm các dạng ung thư: vú, buồng trứng, phổi, tử cung, tuyến tiền liệt, tinh hoàn, ruột kết, tuyến tụy, dạ dày, gan, tuyến giáp...
Ai cần thực hiện xét nghiệm Cancersafe?
Tất cả mọi người, đặc biệt là trên 50 tuổi. Phụ nữ trẻ nên tiến hành xét nghiệm sớm ung thư vú và buồn trứng. Xét nghiệm nên được thực hiện thường niên một năm một lần, hoặc nhiều hơn nếu cần thiết.
Cách thức thu mẫu – Thời gian xét nghiệm – Chi phí
* Cách thu mẫu: Khách hàng sẽ được chúng tôi tiến hành thu 5-10 ml máu tĩnh mạch bằng các dụng cụ chuyên dụng.
* Thời gian có kết quả: Sau 5-7 ngày làm việc (trừ thứ 7, chủ nhật, ngày nghỉ lễ)
* Chi phí: 800$ trọn gói Cancersafe - chuẩn đoán sớm 13 loại ung thư phổ biến nhất (10 chỉ thị đối với phụ nữ, và 11 chỉ thị đối với nam giới).
* Đối tác: phòng xét nghiệm Chaperon-Tarbouriech, France.
Read more…

Xét nghiệm mới cho kết quả chính xác đối với ung thư buồng trứng.

Các nhà khoa học Mỹ đã phát hiện một phương pháp xét nghiệm mới gọi là high-resolution mass spectrometry (xét nghiệm quang phổ kế đo khối lượng với độ phân giải cao) hiệu nghiệm 100% trong việc chẩn đóan sớm ung thư buồng trứng.

Các nhà nghiên cứu tại Viện Ung thư Quốc gia cho biết xét nghiệm này đo các mô hình của các protein trong một mẫu máu của phụ nữ, xác định những khác biệt rất nhỏ nơi trọng lượng giữa các protein bình thường và các protein ung thư. Điều này cho thấy các tế bào nào có thể trở thành tế bào ung thư. Dạng ung thư này khó phát hiện và do đó khi bệnh đã tiến triển người ta mới đi khám. Nếu được chẩn đóan sớm, cơ may chữa trị sẽ cao hơn.

Khi các nhà khoa học xét nghiệm các mẫu máu lấy từ phụ nữ mắc hoặc không mắc ung thư buồng trứng, hệ thống này chính xác đến 100%, phát hiện tất cả các phụ nữ bị ung thư buồng trứng và cho các kết quả không sai lầm nơi các phụ nữ không mắc chứng này.
Read more…

Phương pháp mới xét nghiệm tế bào ung thư tử cung

TT - Bộ trưởng Bộ Y tế Anh Melanie Johnson tuyên bố dành ra 7,2 triệu bảng để đầu tư trong hai năm cho kỹ thuật xét nghiệm mới chẩn đoán ung thư tử cung gọi là nghiên cứu tế bào dựa trên chất lỏng (LBC) do Viện Quốc gia chọn lọc lâm sàng (NICE) vừa khám phá. NICE kêu gọi dùng LBC thay thế những xét nghiệm hiện có.
Theo phương pháp LBC, các mẫu xét nghiệm được lấy theo cách thông thường bằng một thiết bị giống cái bàn chải. Đầu thiết bị này được súc trong một chất lỏng bảo dưỡng để các tế bào cổ tử cung được giữ lại. Sau đó các bác sĩ xét nghiệm xem có tế bào bất thường nào không. Phương pháp mới có tỉ lệ sai sót khoảng 1,6%, trong khi những phương pháp xét nghiệm trước đây có tỉ lệ là 10%.

Theo phương pháp mới, phụ nữ không phải xét nghiệm lại kể từ lần xét nghiệm đầu tiên cho tới tuổi 25. Sau đó họ được kêu gọi xét nghiệm cứ mỗi ba năm/lần cho tới tuổi 49, sau đó cứ mỗi năm năm/lần cho tới tuổi 64.
Read more…

Xét nghiệm mới chuẩn đoán sớm ung thư gan

Chỉ bằng một xét nghiệm máu khá đơn giản, các nhà khoa học Bỉ có thể phát hiện sớm ung thư gan. Kỹ thuật mới này đã phát hiện chính xác ung thư giai đoạn đầu ở tỉ lệ trên 50% trong tổng số ca xét nghiệm, trong khi những phương pháp khác đã không thể đưa ra kết luận chắc chắn.

Nghiên cứu này – có sự cộng tác của các trung tâm nghiên cứu ở Thượng Hải và Bắc Kinh (Trung Quốc) – được thực hiện dưới sự hướng dẫn của nữ tiến sĩ Chitty Chen, thuộc Viện Công nghệ sinh học Flanders và trường ĐH Ghent ở Bỉ.

Nhóm nghiên cứu hy vọng kỹ thuật mới này sẽ góp phần phát hiện sớm hơn và chẩn đoán chính xác hơn ung thư gan, căn bệnh nguy hiểm hàng đầu ở châu Á và châu Phi.

Theo phương pháp mới này, các chuyên gia phát hiện được ung thư gan ở giai đoạn đầu bằng cách theo dõi và phân tích sự thay đổi của các phân tử đường gắn kết với những protein thường có ở gan bị ung thư.

Qua xem xét khối lượng của 2 nhóm đường đặc thù có ở những protein đó, các bác sĩ cũng xác định được kích thước của khối u. Nhóm nghiên cứu cho biết nồng độ của 2 nhóm đường này khác nhau qua từng giai đoạn của bệnh.

Những phương tiện phục vụ chẩn đoán ung thư gan hiện nay bao gồm sinh thiết, chụp ảnh và xét nghiệm định lượng AFP (alpha-fetoprotein) – loại xét nghiệm giúp phát hiện các khối u ác tính dựa trên các chất đặc thù, được gọi là chỉ dấu ung thư, trong máu.

Nhưng theo tiến sĩ Chen, những hình thức xét nghiệm này không tinh nhạy bằng kỹ thuật mới của bà và các cộng sự.

Theo nhóm nghiên cứu, “xét nghiệm mới này đã giúp phát hiện chính xác ung thư gan giai đoạn đầu ở tỉ lệ trên 50% trong tổng số ca nghi ung thư, trong khi những xét nghiệm chẩn đoán khác trước đó không thể đưa ra một kết luận chắc chắn”.

Kỹ thuật mới này còn cho phép thực hiện các phân tích thường xuyên và không xâm lấn đối với bệnh nhân xơ gan, giúp các bác sĩ phát hiện ung thư gan sớm hơn.

Tính chung về mức độ chẩn đoán chính xác thì kỹ thuật mới này đạt tỉ lệ 70%, tức tương đương với tỉ lệ đạt được theo phương pháp xét nghiệm AFP đang được sử dụng rộng rãi hiện nay.

Hiện nay, nhóm nghiên cứu đang chuẩn bị áp dụng phương pháp mới này trong thử nghiệm lâm sàng.
Về tính chất nguy hiểm của ung thư gan, tiến sĩ Chen phát biểu: “Khi ung thư gan mới khởi phát, không hề có triệu chứng gì ỏ người bệnh cả. Nhưng khi đã có triệu chứng, như suy yếu chức năng gan, thì thường là đã quá muộn để có thể điều trị hiệu quả”.

Hàng năm ung thư gan lấy đi sinh mạng của gần 700.000 người, chủ yếu là ở châu Phi và châu Á – những nơi có tỉ lệ viêm gan cao trên thế giới.

Theo bà Chen, khi được sử dụng song song với xét nghiệm AFP, phương pháp này tỏ ra chính xác hơn và có khả năng trở thành một công cụ hữu hiệu hơn trong việc phát hiện sớm ung thư gan, góp phần cứu sống thêm nhiều bệnh nhân.

Tuy nhiên, theo bà, “nếu chúng ta sử dụng kết hợp cả 2 phương pháp đó thì sẽ nâng cao đáng kể hiệu quả của việc xét nghiệm và chẩn đoán ung thư gan”. Bà nhấn mạnh: “Tốt nhất là nên sử dụng đồng thời cả hai phương pháp”.

Nghiên cứu của tiến sĩ Chen và các cộng sự vừa được công bố trên tạp chí Hepatology, thuộc tập đoàn Elsevier (Hà Lan).
Read more…

Xét nghiệm nước bọt để phát hiện ung thư

Theo Reuters, các chuyên gia thuộc Trung tâm Ung thư Johns Hopkins Kimmel (Mỹ) đã tìm ra phương pháp mới giúp phát hiện sớm các bệnh ung thư miệng, thanh quản... bằng cách xét nghiệm mẫu nước bọt. Đây là phương pháp ít tốn kém, dễ thực hiện và không gây đau đớn cho người bệnh.
Read more…

Xét nghiệm máu cho thấy triển vọng phát hiện sớm ung thư tuyến tụy

Một xét nghiệm máu có thể mang lại hy vọng phát hiện và chẩn đoán sớm các dạng ung thư tuyến tụy nguy hiểm.

Trình bày tại hội nghị chuyên đề hàng năm về ung thư dạ dày-ruột, các nhà khoa học cho biết xét nghiệm này, đo nồng độ protein PAM4, có thể xác định 2/3 số bệnh nhân bị ung thư tuyến tụy giai đoạn đầu.
Theo các nhà nghiên cứu thì PAM4 là một protein có mặt trong các tế bào bình thường song tăng lên nhiều ở các tế bào ung thư.
 
Khi các nhà nghiên cứu kết hợp PAM4 với một xét nghiệm khác, CA19-9, đã được phê chuẩn để theo dõi ung thư tuyến tụy trong thời gian điều trị, đã mang lại kết quả rõ ràng hơn và xác định chính xác 85% số bệnh nhân ung thư biểu mô tuyến ống tụy.
Các tác giả cho biết nghiên cứu thêm về PAM4 thậm chí có thể cho thấy các đích điều trị liệu pháp.
Read more…

Xét nghiệm PSA máu phát hiện ung thư tuyến tiền liệt

Tôi năm nay 65 tuổi, có khối u tuyến tiền liệt (TTL) đã gần một năm nay. Hiện khối u có to ra, tôi rất lo lắng bị ung thư. Xin bác sĩ cho biết bằng cách nào để phát hiện chính xác bị ung thư TTL?
Phan Văn Phổ  (Hà Tĩnh)
Phì đại TTL là bệnh hay gặp ở đàn ông ở độ tuổi như bác, nhưng để chẩn đoán đúng bệnh bác cần đi khám sớm. Hiện nay có nhiều biện pháp phát hiện ung thư  TTL, đó là:
Xét nghiệm PSA máu: có một loại xét nghiệm máu thường được sử dụng để phát hiện ung thư TTL đó là định lượng hàm lượng kháng nguyên đặc hiệu TTL viết tắt là PSA (Prostate-Specific Antigen). Tuy nhiên, giống như nhiều loại xét nghiệm sàng lọc khác, xét nghiệm này không hoàn hảo, có thể đem lại kết quả sai lệch. Ví dụ, xét nghiệm PSA bình thường vẫn có thể mắc ung thư TTL, hoặc nếu PSA hơi tăng cao hơn bình thường, người bệnh có thể không mắc ung thư TTL. Khi có các biểu hiện như trên hoặc xét nghiệm PSA nghi ngờ ung thư TTL, có thể làm thêm các xét nghiệm sau:
Siêu âm TTL qua trực tràng: là siêu âm thông qua đầu dò siêu âm đặt trong lòng trực tràng phát sóng siêu âm nhằm hiện hình TTL lên màn hình video.
Soi bàng quang: là sử dụng một loại ống nhỏ, chiếu sáng nhằm quan sát niệu đạo và bàng quang.
Sinh thiết TTL qua trực tràng: là xét nghiệm sử dụng loại dụng cụ dạng kim xuyên qua trực tràng vào TTL nhằm lấy một mẫu tổ chức của tuyến tiền liệt tìm tế bào ung thư dưới kính hiển vi. Chỉ có xét nghiệm sinh thiết TTL mới có vai trò khẳng định chắc chắn ung thư TTL.
Nếu sinh thiết TTL khẳng định ung thư, có thể làm các xét nghiệm khác nhằm đánh giá sự lan tràn ung thư và giúp quyết định phương pháp điều trị: scan xương, chụp cắt lớp vi tính (CT scan), chụp cộng hưởng từ hạt nhân (MRI). Hiện nay biện pháp hiệu quả nhất trong chẩn đoán và ung thư nói chung và TTL nói riêng là chụp PET/CT.
Read more…

Xét nghiệm máu phát hiện ung thư buồng trứng

Một chất hóa học trong máu có thể giúp các bác sĩ phát hiện dấu hiệu sớm của bệnh ung thư buồng trứng, theo nghiên cứu mới được công bố của các nhà khoa học người Mỹ.
xet nghiem 14 18811 Xét nghiệm máu phát hiện ung thư buồng trứng
Một nhóm các nhà khoa học thuộc Trung tâm y tế của trường đại học Rush ở Chicago (Mỹ) đã phát hiện một loại kháng thể trong máu của phụ nữ mắc bệnh ung thư buồng trứng, nhưng không tồn tại trong máu của những phụ nữ khỏe mạnh.
Nhóm nghiên cứu đã tiến hành xét nghiệm máu của những phụ nữ tình nguyện để tìm kháng thể đối với mesothelin – một chất được tìm thấy trên bề mặt của những tế bào ung thư buồng trứng. Nhóm phụ nữ tình nguyện bao gồm 109 có vấn đề về sinh sản, 28 người bị ung thư buồng trứng và 176 người khỏe mạnh.
Kết quả, các nhà khoa học phát hiện thấy kháng thể đối với chất mesothelin ở phần lớn những phụ nữ mắc bệnh ung thư, cũng như ở những phụ nữ vô sinh do những vấn đề về buồng trứng. Chất này không xuất hiện ở những phụ nữ khỏe mạnh.
Tiến sĩ  Judith Luborsky, người đứng đầu nghiên cứu, cho biết: “Phát hiện này có ý nghĩa cực kỳ quan trọng bởi vì các phương pháp thử máu hiện tại không thể phát hiện ung thư buồng trứng ở giai đoạn đầu. Điều này khiến tỷ lệ tử vong của bệnh nhân ung thư buồng trứng tăng cao.”
Hiện tại, ung thư buồng trứng rất khó phát hiện ở giai đoạn đầu, khiến việc điều trị gặp rất nhiều khó khăn do các khối u đã phát triển lớn. Tuy vậy, các chuyên gia về bệnh ung thư cho rằng phương pháp phát hiện ung thư bằng xét nghiệm máu của các nhà khoa học người Mỹ cần được nghiên cứu sâu hơn trước khi áp dụng vào thực tế.
Read more…

Xét nghiệm để tránh bị ung thư cổ tử cung

Thử phết mỏng và xét nghiệm HPV là những phương pháp chụp chiếu ung thư cổ tử cung. Người phụ nữ có thể được kiểm tra thường xuyên để tránh bị ung thư cổ tử cung. Đây là loại ung thư phổ biến thứ hai mà phụ nữ trên toàn thế giới hay mắc phải mà nguyên nhân chủ yếu là do lây nhiễm bệnh hoa liễu, vi rút gây u nhú ở người (HPV).

Trước đây, có khoảng 1 trong số 4 phụ nữ sẽ nhiễm HPV dẫn đến ung thư cổ tử cung trong đời. Nhưng ngày nay chỉ có 1 trong số 1.000 phụ nữ mắc bệnh ung thư do HPV bộc phát thành ung thư cổ tử cung. Con số hiếm hoi này có được do người phụ nữ thử phết mỏng đều đặn, thường xuyên sử dụng bao cao su, và xét nghiệm HPV khi thấy thích hợp. Nếu bạn có thắc mắc về những rủi ro dẫn đến ung thư tử cung, những gì bạn có thể làm để ngừa bệnh, và bạn có nên thử phết mỏng hoặc có nên xét nghiệm HPV không. Khi đọc bài dưới đây, bạn sẽ có câu trả lời cho chính mình.

Tại sao tôi cần chụp chiếu ung thư cổ tử cung?

Chụp chiếu ung thư cổ tử cung có thể phát hiện những thay đổi của tế bào ở cổ tử cung trước khi ung thư phát triển. Những thay đổi có thể được điều trị và ung thư có thể được phòng ngừa. Đó là lý do tại sao chụp chiếu ung thư cổ tử cung là rất quan trọng.

Ung thư cổ tử cung là do vài loại HPV nguy hiểm gây ra. HPV là một trong những vi rút gây bệnh qua đường tình dục phổ biến nhất. Hầu hết HPV vô hại và tự biến mất sau một thời gian. Nhưng một số loại HPV sinh dục đặc biệt nguy hiểm có thể tồn tại dai dẳng và gây nhiễm trùng lâu dài dẫn đến ung thư cổ tử cung.

Ung thư cổ tử cung là mối lo hàng đầu đối với phụ nữ. Trên thế giới, ung thư cổ tử cung “tấn công” nửa triệu phụ nữ và đe dọa cuộc sống của 270.000 người mỗi năm. Số phụ nữ bị ung thư cổ tử cung tại Hoa Kỳ ít hơn so với nước khác trên thế giới vì họ thử phết mỏng và xét nghiệm HPV nhiều hơn. Có khoảng 11.150 trường hợp ung thư cổ tử cung được chẩn đoán ở Mỹ trong năm 2007. Và khoảng 4.000 phụ nữ Mỹ qua đời vì căn bệnh này.

Tại sao một số người nhiễm HPV lâu dài, tế bào tiền ung thư biến đổi, hoặc bị ung thư nhưng không rõ ràng? Đó là do các loại HPV đặc biệt nguy hiểm nhưng không thể hiện triệu chứng gì ở phụ nữ hoặc nam giới. Hầu hết mọi người cảm thấy khỏe ngay cả khi tế bào trong cơ thể họ bị biến đổi bởi HPV. Đó là lý do tại sao việc làm xét nghiệm thường xuyên được khuyến khích.

Thử phết mỏng là gì?

Thử phết mỏng có thể tìm thấy sự thay đổi của những tế bào tiền ung thư cổ tử cung. Phương pháp này còn được gọi là Pap.

Pap thường là một phần của khám phụ khoa định kỳ. Trong khi thử phết mỏng, bác sĩ đặt một mỏ vịt bằng kim loại hoặc nhựa vào trong âm đạo của bạn. Mỏ vịt được mở ra nhằm nong thành của âm đạo rộng hơn để nhìn thấy cổ tử cung. Sau đó, các bác sĩ dùng một thìa nhỏ hoặc bàn chải nhỏ nhẹ nhàng thu thập tế bào từ cổ tử cung và gửi chúng đến phòng thí nghiệm để phân tích.

Mẫu thử không thể tự phát hiện ra HPV. Vì vậy, một kỹ thuật viên phòng thí nghiệm sử dụng kính hiển vi để quan sát mẫu thử có dấu hiệu thay đổi bất thường do HPV gây ra không. Những tế bào thay đổi có thể dẫn đến ung thư cổ tử cung nếu không được chữa trị.

Đối tượng nào nên thử phết mỏng?

Các cơ quan hàng đầu về sức khỏe phụ nữ khuyên nên thử phết mỏng ở tuổi 21 hoặc trong vòng ba năm sau lần giao hợp đầu tiên.

Phụ nữ nên thử phết mỏng mỗi năm cho đến khi 30 tuổi. Ở độ tuổi này trở đi, người phụ nữ nên thử phết mỏng hai hoặc ba năm/ lần. Hãy tham vấn bác sĩ để biết mức độ thường xuyên bạn cần thử phết mỏng. Phụ nữ nên tiếp tục thử phết mỏng cho đến tuổi 70 hoặc thỉnh thoảng sau đó.
Read more…

Xét nghiệm mới phát hiện ung thư cổ tử cung

Một xét nghiệm có thể tìm thấy tới 99% dấu hiệu ung thư cổ tử cung, được cho là hiệu quả hơn rất nhiều so với xét nghiệm sinh thiết làm phết đồ tế bào âm đạo là phương pháp xét nghiệm vi rút HPV.

Nghiên cứu của các nhà khoa học trường ĐH McGill (Montreal, Cannada) cho thấy: Xét nghiệm vi rút u nhú (HPV) tìm thấy trong 95% số trường hợp mà phụ nữ có nguy cơ ung thư cổ tử cung so với tỉ lệ 55% khi làm xét nghiệm sinh thiết bằng phết đồ tế bào âm đạo.

10.154 phụ nữ ở Montreal và St. John (Canada) đã được xét nghiệm theo 2 phương pháp: làm phết đồ tế bào âm đạo (bác sĩ sẽ dùng một dụng cụ có hình mái chèo để lấy một cơ số tế bào có ở cổ tử cung) và xét nghiệm vi rút HPV (xét nghiệm Qiagen).

Đăng tải trên tạp chí New England, nhóm nghiên cứu của Franco cho biết: Trong khi xét nghiệm HPV chỉ ra chính xác tình trạng nhiễm trùng và các thương tổn tiền ung thư thì nó cũng có thể gây ra xác xuất nhầm lẫn là 6%. Nguyên do là không phải trường hợp nhiễm HPV nào cũng sẽ chuyển thành ung thư hoặc nó chỉ tồn tại ở một thời điểm nào đó rồi biến mất. Trong khi đó, xác xuất khi làm xét nghiệm phết tế bào âm đạo chỉ là 3%.

Xét nghiệm phết tế bào âm đạo là phương pháp của các nhà nghiên cứu bệnh học nhằm tìm ra các tế bào bất bình thường mà có thể phát triển thành các khối u ác tính. Xét nghiệm HPV là phương pháp tìm 2 loại vi rút mà là nguyên nhân chính gây ra hầu hết các trường hợp ung thư cổ tử cung cho khoảng 11.000 phụ nữ Mỹ mỗi năm với tỉ lệ tử vong lên tới 4.000 người.

Tuy nhiên, xét nghiệm HPV có chi phí là 90 USD trong khi chỉ 10 - 20 USD cho một lần làm phết tế bào âm đạo.

Ngoài ra, Franco và các cộng sự cũng lưu ý rằng việc tiêm vắc xin phòng ung thư cổ tử cung chỉ có tác dụng đối với 2 loại vi rút là HPV16 và HPV18, được xem là nguyên nhân gây ra 3/4 các ca ung thư cổ tử cung. Hơn thế, không một loại vắc xin nào có thể giúp người phụ nữ ngăn chặn được sự lây nhiễm vi rút HPV nếu họ không có một đời sống tình dục lành mạnh.
Read more…

Xét nghiệm các chỉ dấu ung thư

    "Anh N.V.A, 38 tuổi, kỹ sư xây dựng luôn bận rộn với các công trình. Khi chứng ung thư gan buộc anh phải đến với thầy thuốc thì khối u trong lá gan của anh đã quá lớn và cướp đi tính mạng của anh A chưa đầy 3 tháng sau đó".

Đó chỉ là một trong số các trường hợp đáng tiếc mà lẽ ra chính những người bệnh có thể cùng với những tiến bộ của y học có thể giúp phát hiện sớm, điều trị kịp thời."

Ung thư (UT) từng được coi là căn bệnh quái ác, vô phương cứu chữa. Nhưng căn bệnh này sẽ không tác oai tác quái được con người, nếu phát hiện được sớm sẽ điều trị kịp thời, hiệu quả. Nhiều bệnh nhân mắc căn bệnh hiểm nghèo này vẫn sống lâu, sống tốt, điển hình là Armstrong, 6 lần đoạt vô địch giải “tour de France” sau khi mắc ung thư tinh hoàn đã di căn não, phổi.

Góp phần vào cuộc chiến chống ung thư này, phải kể đến vai trò của xét nghiệm các chỉ dấu ung thư. Chỉ dấu Ung thư là những chất nhìn thấy trong người bệnh UT (trong máu hoặc các tạng) mà xét nghiệm chúng sẽ giúp ích cho chẩn đoán hay theo dõi điều trị bệnh.

Xét nghiệm này có vai trò quan trọng đầu tiên là giúp sàng lọc (tầm soát) trên nhóm người có nguy cơ cao mắc bệnh UT để tìm ra người bệnh ngay khi chưa có triệu chứng của bệnh, bên ngoài vẫn như người khỏe mạnh bình thường.

Các vai trò tiếp theo của xét nghiệm chỉ dấu UT là : (1) Góp phần chẩn đoán UT hoặc xác định loại UT; (2) Giúp tiên lượng bệnh và theo dõi diễn biến kết quả sau điều trị phẫu thuật, xạ trị hay hóa trị; và (3) giúp phát hiện UT tái phát. Cụ thể là : nếu xét nghiệm chỉ dấu UT trong máu giảm xuống là biểu hiện đáp ứng tốt, điều trị có kết quả. Ngược lại, nếu chỉ dấu UT tăng lên là bệnh diễn biến xấu hoặc tái phát.

Giới thiệu một số Xét nghiệm chỉ dấu UT thường dùng, thực hiện tại khoa Xét nghiệm – Bệnh Viện Đại Học Y Dược TP.HCM:

Prostate-specific antigen (PSA): được chấp nhận rộng rãi để tầm soát UT tuyến tiền liệt (TTL). Nó tương đối đặc hiệu với TTL, nhưng không phải là tuyệt đối, được sử dụng kết hợp với thăm trực tràng và sinh thiết TTL khi cần thiết để xác định chẩn đoán. Kết hợp với xét nghiệm PSA tự do phát hiện bệnh chính xác hơn.

Alpha-fetoprotein (AFP) : hữu ích nhất là theo dõi đáp ứng điều trị UT tế bào gan. Ở người UT tế bào gan 2/3 số người bệnh có AFP tăng cao liên quan tương ứng với kích thước của khối u.

Carcinoembryonic antigen (CEA ): dùng theo dõi UT đại – trực tràng trong và sau điều trị . Cũng có thể dùng theo dõi Ung thư phổi và UT vú. Nó còn tăng trong 1 số UT như tuyến giáp, tụy, gan, dạ dày, buồng trứng và bàng quang.

CA 19-9:được coi là chỉ số tốt nhất theo dõi UT tụy. CA 19-9 cũng từng được dùng để phát hiện UT trực tràng kết hợp với CEA.

CA 125: là chỉ dấu tiêu chuẩn đã được dùng theo dõi trong và sau điều trị UT buồng trứng dạng tế bào biểu mô ( dạng phổ biến nhất của UT buồng trứng ). Tới 90% bệnh nhân ở giai đoạn nặng của bệnh có CA 125 tăng cao hơn mức bình thường 30 – 35 U/mL. Chỉ số này có thể dùng để tầm soát, nhưng nó không phải là tuyệt đối: có những người không được phát hiện ở giai đoạn sớm; ngược lại một số tình trạng khác không phải UT buồng trứng cũng có tăng CA 125.

CA 15-3: được dùng chủ yếu để theo dõi UT vú, tăng trong số 10% bệnh nhân ở giai đoạn sớm và 90% bệnh nhân ở giai đoạn nặng của bệnh. Nồng độ CA 15 – 3 thường giảm mạnh sau khi điều trị.

Ngoài ra, còn nhiều chỉ dấu UT khác đang được nghiên cứu và chưa được sử dụng rộng rãi.

Những hướng nghiên cứu các chỉ dấu UT mới nhằm phát hiện UT thật sớm:

Genomics: các chỉ dấu duy truyền qua các thay đổi AND trong toàn bộ bộ gen (Genomics ) chứ không phải với từng AND riêng lẻ, giúp phát hiện ung thư sớm, hữu hiệu hơn.

Proteomics: nhằm đánh giá toàn bộ kiểu hình các chất protein(thay vì chỉ tìm từng chất riêng lẽ, giúp phát hiện sớm nhất những thay đổi liên quan đến các loại UT. Đó là những hướng nghiên cứu còn mới mẻ,hy vọng sẽ dần được ứng dụng trong khám và điều trị bệnh UT trong tương lai.

Lưu ý chung khi sử dụng xét nghiệm các chỉ dấu UT:

Các ý nghĩa nêu trên của chỉ dấu UT không phải là tuyệt đối, chúng có độ nhạy và độ đặc hiệu khác nhau tùy từng trường hợp. Cần tư vấn với các bác sĩ chuyên khoa để đánh giá và sử dụng các xét nghiệm này chính xác và hiệu quả nhất.
Read more…

Phát hiện ung thư buồng trứng qua xét nghiệm máu

Một chất hóa học trong máu có thể giúp các bác sĩ phát hiện dấu hiệu sớm của bệnh ung thư buồng trứng, theo nghiên cứu mới được công bố của các nhà  khoa học người Mỹ.

Một nhóm các nhà khoa học thuộc Trung tâm y tế của trường đại học Rush ở Chicago (Mỹ) đã phát hiện một loại kháng thể trong máu của phụ nữ mắc bệnh ung thư buồng trứng, nhưng không tồn tại trong máu của những phụ nữ khỏe mạnh.

Nhóm nghiên cứu đã tiến hành xét nghiệm máu của những phụ nữ tình nguyện để tìm kháng thể đối với mesothelin – một chất được tìm thấy trên bề mặt của những tế bào ung thư buồng trứng. Nhóm phụ nữ tình nguyện bao gồm 109 có vấn đề về sinh sản, 28 người bị ung thư buồng trứng và 176 người khỏe mạnh.


Kết quả, các nhà khoa học phát hiện thấy kháng thể đối với chất mesothelin ở phần lớn những phụ nữ mắc bệnh ung thư, cũng như ở những phụ nữ vô sinh do những vấn đề về buồng trứng. Chất này không xuất hiện ở những phụ nữ khỏe mạnh.

Tiến sĩ  Judith Luborsky, người đứng đầu nghiên cứu, cho biết: “Phát hiện này có ý nghĩa cực kỳ quan trọng bởi vì các phương pháp thử máu hiện tại không thể phát hiện ung thư buồng trứng ở giai đoạn đầu. Điều này khiến tỷ lệ tử vong của bệnh nhân ung thư buồng trứng tăng cao.”

Hiện tại, ung thư buồng trứng rất khó phát hiện ở giai đoạn đầu, khiến việc điều trị gặp rất nhiều khó khăn do các khối u đã phát triển lớn. Tuy vậy, các chuyên gia về bệnh ung thư cho rằng phương pháp phát hiện ung thư bằng xét nghiệm máu của các nhà khoa học người Mỹ cần được nghiên cứu sâu hơn trước khi áp dụng vào thực tế.
Read more…

Lo lắng xét nghiệm máu thấy ung thư

Ngày thi cuối, đứa bạn hấp tấp thi xong về liền. Hỏi nó: “Về chi sớm vậy?”, “Ông tớ bị bệnh, sắp mất”, “Bệnh gì?” “Ung thư”. Nói xong, nó chạy vội cho kịp chuyến xe xa xôi về đất miền Trung để thăm người ông trong những ngày cuối cùng của cuộc đời.

Từ ngày có hàng loạt những công ty hóa chất bị kiện vì xả chất thải ra môi trường khiến nhà nhà ung thư, người người ung thư, có khi cả làng ung thư vì sử dụng chung nguồn nước, con người ngày càng lo lắng cho sức khỏe của mình. Thế nên nhiều công ty có những đợt kiểm tra sức khỏe định kỳ, phát hiện ra ung thư sớm giúp người bệnh có thể được chữa trị. Nhưng kết quả kiểm tra, có khi lại là “báo động giả” làm người tưởng bệnh sống trong cảnh nơm nớp lo sợ.

Lo lắng khi xét nghiệm máu biết mình ung thư

Kết quả dương tính với ung thư trong lần kiểm tra máu đầu tiên nhưng truy tìm mãi vẫn không thấy ung thư chỗ nào với công nghệ hiện đại là nỗi lo lắng thật sự của người được kiểm tra. Lần 1 nếu sai sót sẽ có lần 2, lần 3, nhưng những lần sau vẫn dương tính khiến người không bệnh cũng đổ sụp vì cơn shock về nguy cơ bệnh. Cuộc sống sẽ dừng lại trước mắt, mọi hạnh phúc gia đình tan vỡ như bong bóng. Nhưng kiểm tra hoài, cuối cùng kết quả lại âm tính. Không bệnh, không tật, không ung thư. Sao lạ vậy trời?

Còn có người xét nghiệm dương tính, hoảng quá ra nước ngoài chụp PET - CT nhưng không phát hiện được gì. Rốt cuộc người bệnh tốn tiền, tốn máu và “được”... hoảng sợ! Dù mục đích ban đầu của xét nghiệm định lượng dấu ấn ung thư là giúp tầm soát và phát hiện sớm bệnh nhưng đến nay rất ít dấu ấn ung thư đạt mục đích này.

Có người cũng chết vì ung thư thật, nhưng lạ đời vì người bệnh có khối u ở vú, xét nghiệm ung thư vú thấy dương tính nhưng kết quả xét nghiệm DR-70 âm tính. Sau đó ngã bệnh và chết vì ung thư phổi (chứ không phải ung thư vú)!

Theo kết luận của các chuyên gia thì xét nghiệm tìm dấu ấn ung thư trong máu không thể dùng cho chẩn đoán bệnh ung thư. Vì thế, nếu có lỡ đi xét nghiệm ung thư, người xét nghiệm cần biết những trường hợp cần xét như:

- Những người mà người thân ruột thịt bị loại ung thư có tính di truyền.

- Những người thuộc nhóm có nguy cơ cao mắc ung thư như hút thuốc lá nhiều và lâu năm...

- Những người mắc viêm gan siêu vi B hoặc C, có nguy cơ cao bị ung thư gan, nên xét nghiệm định kỳ định lượng AFP phối hợp với xét nghiệm hình ảnh học như siêu âm, chụp CT gan.

- Người có xét nghiệm khác hoặc triệu chứng lâm sàng nghi ung thư.

- Những người đã mắc bệnh ung thư - đang điều trị hoặc đã điều trị khỏi thì trong quá trình theo dõi bệnh cũng cần xét nghiệm định lượng dấu ấn ung thư tương ứng với loại ung thư người đó đã mắc.

Vậy nên, nếu không nằm trong những trường hợp trên, xét nghiệm máu lần đầu dương tính người bệnh cũng không nên quá lo lắng. Vì nếu lo lắng sẽ gây tâm lý không ổn định chung cho đại gia đình và cả những người thân.
Read more…

Xét nghiệm nước tiểu giúp phát hiện ung thư tuyến tiền liệt

Các nhà khoa học tại Đại học Y Michigan (Mỹ) vừa công bố biện pháp xét nghiệm nước tiểu mới có thể giúp phát hiện ung thư tuyến tiền liệt, từ đó lựa chọn các giải pháp điều trị tốt hơn.
Tiến sỹ Scott Tomlins, trưởng nhóm nghiên cứu cho biết hiện xét nghiệm PSA (xét nghiệm máu để chẩn đoán ung thư) có thể giúp phát hiện ung thư tuyến tiền liệt. Tuy nhiên, loại xét nghiệm này không có độ tin cậy cao.

Những tế bào cơ chất có ảnh hưởng tới kích cơ phát triển của khối u
Người có PSA thấp vẫn có thể bị ung thư và người có PSA cao lại không bị ung thư. Xét nghiệm nước tiểu mới nhằm tìm kiếm 2 chỉ số về gien đi liền với ung thư là TMPRSS2:ERG và PCA3 sẽ cho kết quả tin cậy hơn vì TMPRSS2:ERG chỉ được tìm thấy trong các trường hợp bị ung thư.
Để thực hiện nghiên cứu này, tiến sỹ Tomlins và các cộng sự đã nghiên cứu mẫu nước tiểu của 1.312 nam giới có mức PSA cao và đã có xét nghiệm sinh tiết tuyến tiền liệt hoặc phẫu thuật để loại bỏ tuyến tiền liệt.
Các nhà khoa học đã xét nghiệm nước tiểu để tìm kiếm hai chỉ số TMPRSS2:ERG và PCA3, sau đó sử dụng các chỉ số này để chia số nam giới trên vào 3 nhóm có nguy cơ ung thư tuyến tiền liệt thấp, trung bình và cao. Tiếp đó, các nhà khoa học so sánh kết quả phân loại với kết quả xét nghiệm sinh tiết. Dựa trên kết quả xét nghiệm sinh tiết, ung thư tuyến tiền liệt được tìm thấy ở 21% số nam giới thuộc nhóm có nguy cơ thấp, 43% ở nhóm có nguy cơ trung bình và 69% ở nhóm có nguy cơ cao.
Các chuyên gia cũng cho biết kết quả của các xét nghiệm nước tiểu này có mối tương quan đối với kích cỡ của khối u và mức độ nguy cấp ung thư. Trong nhóm có nguy cơ thấp, chỉ 7% là bị ung thư cấp tính, trong khi tỷ lệ này của nhóm có nguy cơ cao là 40%.
Tuy nhiên, tiến sỹ Tomlins cũng cảnh báo rằng không nên chỉ dựa vào xét nghiệm này để bỏ qua việc xét nghiệm sinh tiết vì vẫn có trường hợp bị ung thư nhưng không có hai chỉ số gen TMPRSS2:ERG và PCA3. Bên cạnh đó, nghiên cứu mới được tiến hành chủ yếu đối với các bệnh nhân người da trắng, nên cần được tiếp tục nghiên cứu trên diện rộng hơn.
Read more…

Xét nghiệm mới phát hiện ung thư buồng trứng sớm

Ung thư là căn bệnh gây tỷ lệ tử vong cao nhưng có thể tránh hoặc hạn chế được điều này nếu được phát hiện sớm.

Trước đây, người ta thường sử dụng xét nghiệm tế bào để sàng lọc ung thư buồng trứng nhưng mới đây, các nhà khoa học nghiên cứu cho biết có thể sử dụng xét nghiệm HPV để sàng lọc loại ung thư này.

Đó là kết quả nghiên cứu mới nhất của một nhóm các nhà nghiên cứu tại Hội Ung thư lâm sàng Mỹ tìm hiểu về ung thư trong khung chậu. Theo đó, người ta tiến hành độc lập hai xét nghiệm là HPV (xét nghiệm tìm virut gây ung thư tử cung) và xét nghiệm tế bào cho 330.000 phụ nữ Mỹ trên 30 tuổi và theo dõi nguy cơ bị bệnh. Kết quả cho thấy, sử dụng xét nghiệm HPV có giá trị tiên đoán cao hơn gấp 2 lần so với xét nghiệm tế bào

Dựa theo kết quả nghiên cứu này, người ta khẳng định, nếu một phụ nữ không có triệu chứng bệnh, xét nghiệm tế bào và HPV âm tính thì có thể yên tâm không bị ung thư buồng trứng cho tới 3 năm sau, kể cả những người phụ nữ này ở trên 30 tuổi, lứa tuổi được cảnh báo.
Read more…

Xét nghiệm mới giúp chẩn đoán sớm ung thư gan

Chỉ bằng một xét nghiệm máu khá đơn giản, các nhà khoa học Bỉ có thể phát hiện sớm ung thư gan. Kỹ thuật mới này đã phát hiện chính xác ung thư giai đoạn đầu ở tỉ lệ trên 50% trong tổng số ca xét nghiệm, trong khi những phương pháp khác đã không thể đưa ra kết luận chắc chắn.

Nghiên cứu này - có sự cộng tác của các trung tâm nghiên cứu ở Thượng Hải và Bắc Kinh - được thực hiện dưới sự hướng dẫn của nữ tiến sĩ Chitty Chen, thuộc Viện Công nghệ sinh học Flanders và trường Đại học Ghent ở Bỉ.

Nhóm nghiên cứu hy vọng kỹ thuật mới này sẽ góp phần phát hiện sớm hơn và chẩn đoán chính xác hơn ung thư gan, căn bệnh nguy hiểm hàng đầu ở châu Á và châu Phi.

Theo phương pháp mới này, các chuyên gia phát hiện được ung thư gan ở giai đoạn đầu bằng cách theo dõi và phân tích sự thay đổi của các phân tử đường gắn kết với những protein thường có ở gan bị ung thư.

Qua xem xét khối lượng của 2 nhóm đường đặc thù có ở những protein đó, các bác sĩ cũng xác định được kích thước của khối u. Nhóm nghiên cứu cho biết nồng độ của 2 nhóm đường này khác nhau qua từng giai đoạn của bệnh.

Những phương tiện phục vụ chẩn đoán ung thư gan hiện nay bao gồm sinh thiết, chụp ảnh và xét nghiệm định lượng AFP (alpha-fetoprotein) – loại xét nghiệm giúp phát hiện các khối u ác tính dựa trên các chất đặc thù, được gọi là chỉ dấu ung thư, trong máu.

Nhưng theo tiến sĩ Chen, những hình thức xét nghiệm này không tinh nhạy bằng kỹ thuật mới của bà và các cộng sự.

Theo nhóm nghiên cứu, “xét nghiệm mới này đã giúp phát hiện chính xác ung thư gan giai đoạn đầu ở tỉ lệ trên 50% trong tổng số ca nghi ung thư, trong khi những xét nghiệm chẩn đoán khác trước đó không thể đưa ra một kết luận chắc chắn”.

Kỹ thuật mới này còn cho phép thực hiện các phân tích thường xuyên và không xâm lấn đối với bệnh nhân xơ gan, giúp các bác sĩ phát hiện ung thư gan sớm hơn.

Tính chung về mức độ chẩn đoán chính xác thì kỹ thuật mới này đạt tỉ lệ 70%, tức tương đương với tỉ lệ đạt được theo phương pháp xét nghiệm AFP đang được sử dụng rộng rãi hiện nay.

Hiện nay, nhóm nghiên cứu đang chuẩn bị áp dụng phương pháp mới này trong thử nghiệm lâm sàng.

Về tính chất nguy hiểm của ung thư gan, tiến sĩ Chen phát biểu: “Khi ung thư gan mới khởi phát, không hề có triệu chứng gì ỏ người bệnh cả. Nhưng khi đã có triệu chứng, như suy yếu chức năng gan, thì thường là đã quá muộn để có thể điều trị hiệu quả”.

Hàng năm ung thư gan lấy đi sinh mạng của gần 700.000 người, chủ yếu là ở châu Phi và châu Á – những nơi có tỉ lệ viêm gan cao trên thế giới.

Theo bà Chen, khi được sử dụng song song với xét nghiệm AFP, phương pháp này tỏ ra chính xác hơn và có khả năng trở thành một công cụ hữu hiệu hơn trong việc phát hiện sớm ung thư gan, góp phần cứu sống thêm nhiều bệnh nhân.

Tuy nhiên, theo bà, “nếu chúng ta sử dụng kết hợp cả 2 phương pháp đó thì sẽ nâng cao đáng kể hiệu quả của việc xét nghiệm và chẩn đoán ung thư gan”. Bà nhấn mạnh: “Tốt nhất là nên sử dụng đồng thời cả hai phương pháp”.

Nghiên cứu của tiến sĩ Chen và các cộng sự vừa được công bố trên tạp chí Hepatology, thuộc tập đoàn Elsevier (Hà Lan).
Read more…

Ung thư dạ dày: Các xét nghiệm cần làm

Thường thì khi phát hiện, bệnh đã ở giai đoạn quá muộn, và nguy cơ tử vong ở người ung thư dạ dày vì thế rất cao. Khi mới nghi ngờ những triệu chứng ban đầu, hãy chủ động đi làm những xét nghiệm cần thiết.

Những dấu hiệu “tiền trạm”

Điển hình và dễ nhận biết nhất là những dấu hiệu như xuất hiện cảm giác khó tiêu, hay bị ợ nóng; khó chịu hoặc đau ở vùng bụng; thường xuyên ỉa lỏng hoặc táo bón; chướng bụng sau các bữa ăn; suy nhược và mệt mỏi; chảy máu (nôn ra máu hoặc trong phân có máu).

Nếu bạn có những triệu chứng trên thì thể nào bạn cũng đã “có vấn đề” về dạ dày, nếu không nặng là ung thư, thì nhẹ hơn cũng là viêm hoặc loét, tức là đã đến lúc cần phải điều trị bệnh. Xác định rõ nguyên nhân sẽ giúp việc điều trị được dễ dàng hơn.

Có đúng là ung thư?

Để trả lời câu hỏi khiến bạn lo lắng, tốt nhất bạn nên đi làm một trong hai xét nghiệm: Chụp X-quang dạ dày hàng loạt hoặc nội soi dạ dày.

Chụp X-quang dạ dày hàng loạt là xét nghiệm cổ điển, đã có từ lâu và cho kết quả khá chính xác. Để làm xét nghiệm này, bạn cần phải uống dung dịch barit và phải nhịn ăn trước khi chụp ít nhất 4 giờ.

Đó là cách để dạ dày được hoàn toàn rỗng và trở thành một khuôn, để khi khối barit vào thì sẽ được đúc chuẩn trong đó. Nhờ vậy, hình ảnh dạ dày trên phim mới rõ nét và trung thực.

Thường thì nhiều người bệnh không hiểu nên khi được chỉ định chụp một lúc nhiều phim đã nghi ngờ tính trung thực của người bác sĩ. Không ít người cho rằng, chụp nhiều phim là cách các bác sĩ moi tiền bệnh nhân!

Trong trường hợp này, nghi ngờ đó là không có cơ sở, bởi để nhìn rõ mọi góc cạnh của dạ dày, ít nhất cần đến 5 tấm phim ở 5 thế chụp khác nhau: Một phim ở tư thế đứng (để xác định vị trí dạ dày trong ổ bụng: Liệu dạ dày có bị sa xuống phía dưới không) và 4 phim liên tiếp ở tư thế nằm.

Động tác co bóp của dạ dày tạo nên các sóng nhu động lan dọc theo thành dạ dày, do vậy trên phim, chúng ta sẽ thấy bờ cong của dạ dày và thấy có hình uốn sóng (các sóng bình thường mềm mại và hình thay đổi ở mỗi phim).

Phân tích chi tiết các hình trên phim, nhất là các sóng nhu động trên các bờ của dạ dày, bác sĩ chuyên khoa có thể phát hiện các tổn thương ở dạ dày như viêm, loét, ung thư...

Nội soi dạ dày cũng là một cách để bạn xác định mình có bị ung thư dạ dày thật không. Để tiến hành kỹ thuật này, kỹ thuật viên sẽ sử dụng một ống soi mềm đưa qua miệng, thực quản để tới dạ dày.

Qua ống soi, bác sĩ có thể quan sát được những biến đổi ở mặt trong dạ dày như viêm, loét, ung thư... Nếu vùng nào nghi ngờ có ung thư, có thể qua ống soi trích một ít mô ở vùng đó đưa ra ngoài (sinh thiết dạ dày) và gửi tới bác sĩ chuyên khoa về giải phẫu bệnh soi kính hiển vi tìm tế bào ung thư.

Soi dạ dày kết hợp với sinh thiết là cách phát hiện ung thư dạ dày tốt nhất. Tuy nhiên, đối với một số bệnh nhân không chịu được việc đưa ống soi vào dạ dày, có thể chụp X-quang trước, nếu có nghi ngờ thì mới bắt buộc phải soi dạ dày.

Ung thư giai đoạn nào?

Kết quả “tệ nhất” mà bạn nhận được, đó là bạn đã bị ung thư dạ dày! Nhưng để có cách điều trị thích hợp và hiệu quả, bạn phải tiếp tục làm một số xét nghiệm nữa để xác định giai đoạn tiến triển của bệnh.

Điều này rất có ý nghĩa, bởi sẽ giúp bác sĩ biết được khối ung thư của bạn đã “đi” được những đoạn đường nào trong quá trình phá huỷ cơ thể bạn, hiện còn nằm trong dạ dày hay đã di căn sang các bộ phận khác rồi.

Do vậy, bác sĩ điều trị sẽ tuỳ theo dấu hiệu lâm sàng mà chỉ định làm thêm một hay một số xét nghiệm như siêu âm ổ bụng để xem có lan tới gan, tuỵ, đại tràng, buồng trứng không; chụp X-quang phổi xem đã lan tới phổi chưa; chụp cắt lớp điện toán và một số xét nghiệm khác.
Read more…

Xét nghiệm mới phát hiện ung thư buồng trứng

Các bác sĩ ví ung thư buồng trứng như một kẻ giết người thầm lặng nhưng phương pháp mới này sẽ giúp phát hiện khối u khi còn rất nhỏ. 
ungthubuongtrung.jpg
Việc kiểm tra phát hiện sớm ung thư buồng trứng là rất khó khăn đối với các bác sĩ
Phát hiện theo cách nào?
Xét nghiệm sẽ tính lượng protein có tên HE4 trong máu. Nếu lượng HE4 ít thì là bình buồng trứng hoàn toàn bình thường nhưng ung thư sẽ tạo ra rất nhiều protein này, vì vậy nồng độ cao sẽ là dấu hiệu cho thấy nguy cơ.
Một xét nghiệm khác là protein CA125, dấu hiệu chính xác cho thấy phụ nữ bị ung thư buồng trứng.
2 xét nghiệm này được thực hiện cùng 1 lúc sẽ giúp bác sĩ đưa ra chẩn đoán chính xác.
Các xét nghiệm hiện nay ra sao?
Hiện không có một chương trình tầm soát ung thư buồng trứng nhưn nếu có biểu hiện thì test CA125 sẽ được áp dụng.
Có 2 vấn đề với xét nghiệm này: đầu tiên, nó chỉ phát hiện được nửa số ca ung thư buồng trứng, có nghĩa là một nửa còn lại không phát hiện ra. Thứ 2, nó cũng là dấu hiệu cho thấy những bệnh khác, không chỉ là ung thư buồng trứng, vì thế nó không thực sự đặc trưng.
Test HE4 sẽ mang tính đặc trưng của ung thư buồng trứng hơn.
Tại sao siêu âm lại quan trọng?
Ung thư buồng trứng là một kẻ giết người thầm lặng bởi vì các triệu chứng có xu hướng xuất hiện khi khối u đã tương đối phát triển. Bệnh này vì thế rất khó chẩn đoán và tỉ lệ tử vong cao. Việc siêu âm sẽ hỗ trợ chẩn đoán tốt hơn và cơ hội sống sẽ nhiều hơn.
Những biểu hiện của ung thư buồng trứng
Hoàn toàn không rõ ràng khi ở giai đoạn đầu, ngoài một số khó chịu nho nhỏ ở vùng bụng. Phụ nữ thường hay bị đầy bụng mà không thấy đỡ. Những người mắc bệnh cũng phàn nàn về tình trạng đau bụng dưới hay cảm thấy có áp lực ở khung xương chậu, ngại ăn và thấy no nhanh.
Các triệu chứng khác bao gồm đau khi "yêu", cảm giác thèm ăn và các thói quen đường ruột bị thay đổi.
Bệnh có di truyền?
Có nhưng phần lớn là bệnh "tự phát". Có một số ít trường hợp là do lỗi gene và di truyền trong gia đình và thường chỉ ở thế hệ gần và bệnh thường khởi phát sớm.
Read more…

Một số xét nghiệm chẩn đoán, đánh giá điều trị ung thư.

Ung thư là nguyên nhân gây tử vong đang có chiều hướng tăng lên tại các nước đang phát triển, làm những xét nghiệm gì để chẩn đoán, đánh giá điều trị kịp thời, hiệu quả?

Ung thư là nguyên nhân tử vong đứng hàng thứ hai ở những nước phát triển, đồng thời tần suất bệnh cũng đang tăng lên nhanh chóng ở các nước đang phát triển.Các phương pháp chẩn đoán ung thư ngày càng phong phú và có giá trị, trong đó có xét nghiệm chỉ tố dấn ấn ung thư (tumor marker). Các chỉ tố này đã bắt đầu được sử dụng tại Việt Nam, góp phần đáng kể trong chẩn đoán và theo dõi điều trị một số bệnh ung thư.
Chỉ tố dấu ấn ung thư là những yếu tố mà sự xuất hiện hoặc biến đổi nồng độ trong các mô hoặc dịch cơ thể phản ánh những rối loạn cơ thể điều hòa sinh trưởng, rối loạn chuyển hóa của tế bào liên quan đến bệnh sinh và sự phát triển của Ung thư qua nhiều giai đoạn.
*Một chỉ tố ung thư lí tưởng phải có các đặc điểm sau:
-Đặc hiệu
- Nhạy
- Chẩn đoán sớm
- Xác định được giai đoạn ung thư
- Tiên lượng được bệnh
- Đánh giá được hiệu quả điều trị
Trên thực tế chưa có chỉ tố nào đạt được tất cả các yếu tố trên. Tuy nhiên các chỉ tố này vẫn rất quan trọng, có thể phối hợp với nhiều loại xét nghiệm khác như chẩn đoán hình ảnh, xét nghiệm tế bào, huyết học, hóa sinh, miễn dịch… để giúp bác sĩ đưa ra phác đồ điều trị phù hợp với bệnh nhân.

*Các chỉ tố dấu ấn ung thư hay gặp nhất bao gồm:
1.  AFP
_ Mục đích xét nghiệm: Giá trị chính của AFP là theo dõi tiến trình bệnh và hiệu quả điều trị ung thư tế bào gan nguyên phát, ung thư tinh hoàn sau điều trị phẫu thuật, xạ trị hoặc hoá trị liệu.
_ Khi nào xét nghiệm:Khi bác sĩ nghi ngờ rằng bạn có thể bị bệnh ung thư gan, tinh hoàn, hoặc buồng trứng; áp dụng trong và sau khi điều trị cho một trong các bệnh ung thư; đôi khi bạn có bệnh viêm gan mãn tính hoặc xơ gan
_ Ý nghĩa lâm sàng- Phát hiện ung thư: AFP tăng có thể cho thấy sự hiện diện của bệnh ung thư, phổ biến nhất là ung thư gan, ung thư buồng trứng, và khối u tế bào mầm tinh hoàn, tuy nhiên không có tính tuyệt đối. Ngoài ra mức độ tăng AFP đôi khi có thể xảy ra với bệnh ung thư khác như dạ dày, ruột, phổi, vú, và lymphoma.
_ Giám sát điều trị: chỉ dùng để giám sát điều trị nếu nồng độ AFP tăng trước khi điều trị
+AFP giảm: BN có đáp ứn với điều trị.
+AFP giảm không đáng kể, gần mức bình thường: một số tế bào khối u vẫn có thể tồn tại.
+AFP bắt dầu tăng:ung thư có khả năng tái phát
_ Với người bị bệnh gan mãn tính nếu AFP tăng cao đến rất cao: nguy cơ phát triển ung thư  gan
2. PSA
- Theo dõi bệnh ung thư tuyến tiền liệt có hoặc không có triệu chứng
- Gúp xác định sự cần thiết cho phép sinh thiết tuyến tiền liệt.
- Gám sát hiệu quả của điều trị ung thư tuyến tiền liệt, và để phát hiện tái phát bệnh ung thư tuyến tiền liệt
Khi BN có triệu chứng của bệnh ung thư tuyến tiền liệt như khó khăn, đau đớn, và / hoặc đi tiểu thường xuyên; cũng có thể chỉ định trong và định kỳ sau khi điều trị ung thư tuyến tiền liệt.
*Ý nghĩa lâm sàng
- Nếu nồng độ PSA toàn phần (tPSA) lớn hơn 10ng/ml: nguy cơ mắc ung thư tuyến tiền liệt hơn 67%
- Nếu nồng độ PSA từ 4 đến 10ng/ml, được gọi là vùng xám, nguy cơ mắc ung thư tuyến tiền liệt xấp xỉ 25%. Trong vùng này, nồng độ PSA tự do (fPSA) rất có ý nghĩa, nếu fPSA  giảm, nguy cơ mắc ung thư tăng và ngược lại. 
3. CEA
* Mục đích xét nghiệm: CEA không phải là chỉ tố ung thư đặc hiệu cho một cơ quan nào, nhưng rất có giá trị để phối hợp với các yếu tố khác trong chẩn đoán và điều trị ung thư dạ dày, tụy, vú, phổi, tử cung, buồng trứng… đặc biệt là ung thư đường tiêu hóa.
* Khi nào xét nghiệm: Khi bác sĩ của bạn nghĩ rằng các triệu chứng của bạn gợi ý về khả năng ung thư; trước khi bắt đầu điều trị ung thư cũng như khoảng thời trong và sau khi điều trị.
4. CA-125
* Ý nghĩa lâm sàng: CA -125 có giá trị trong giám sát điều trị cho bệnh nhân đang mắc ung thư buồng trứng hoặc để phát hiện bệnh tái phát .
Nồng độ CA-125 có thể được tăng lên trong điều kiện một số trường hợp khác. Điều này có nghĩa là nó không phải là dấu hiệu tuyệt đối cho bệnh ung thư buồng trứng. CA-125 bình thường có thể được tăng lên trong thời kỳ đầu mang thai và trong thời gian kinh nguyệt. Nó cũng có thể được tăng lên trong các bệnh như bệnh viêm vùng chậu, hoặc endometriosis và đôi khi trong bệnh viêm gan và xơ gan của gan.
 5. CA 15-3
* Ý nghĩa lâm sàng: để đánh giá quá trình điều trị ở bệnh nhân ung thư vú, cũng như để theo dõi nếu bệnh tái phát.
Ngoài ra, CA 27-29 cũng là một chỉ tố khác trong chẩn đoán ung thư vú.

6. CA 19-9
*Ý nghĩa lâm sàng:
- Để giúp phân biệt giữa bệnh ung thư của tuyến tụy và các bệnh khác, chẳng hạn như viêm tuỵ
- Để theo dõi đáp ứng điều trị của bệnh nhân trong ung thư tuyến tụy và / hoặc tiến triển bệnh ung thư
- Để xác định tái phát bệnh ung thư tuyến tụy.
Read more…

Xét nghiệm mới giúp chặn đứng di căn ung thư

(TNO) Một cuộc xét nghiệm máu mới và đặc biệt nhạy có thể giúp phát hiện sự lây lan bệnh ung thư trong cơ thể, theo trang tin Top News.

Người ta hy vọng “sinh thiết lỏng”, vốn theo dõi các tế bào ác tính đang di chuyển quanh cơ thể, sẽ giúp các nhà khoa học chặn đứng di căn, quá trình mà ở đó bệnh ung thư lây lan.

Đây là nguyên nhân chủ yếu gây tử vong ở 9/10 người mắc bệnh ung thư.

Các nhà nghiên cứu ở bang California (Mỹ) cho biết cuộc xét nghiệm của họ phác họa chính xác hơn hành trình của các tế bào ở bệnh nhân mắc các bệnh ung thư tuyến tiền liệt, vú, và tuyến tụy. Nó vận hành bằng cách gắn những tấm “thẻ” huỳnh quang vào các protein tế bào ung thư, làm cho chúng phát sáng.

Bằng cách lần theo dấu vết những tế bào ung thư, bác sĩ có thể dự đoán tốt hơn những phương pháp chữa trị hiệu quả.
Read more…

Xét nghiệm phát hiện sớm ung thư đại - trực tràng

Bệnh ung thư đại - trực tràng có thể sảy ra ở cả nam và nữ, có thể xuất hiện ở mọi lứa tuổi, nhưng thường được tìm thấy ở những người 50 tuổi trở lên và nguy cơ mắc bệnh tăng dần theo tuổi.

Ung thư đại - trực tràng là căn bệnh phổ biến, đứng hàng đầu trong ung thư đường tiêu hoá tại các nước Âu, Mỹ. Tại Việt Nam và các nước châu Á loại ung thư này đang tăng nhanh cùng với sự tăng cao của mức sống và đang ngày càng được trẻ hoá. Nhiều nhà khoa học cho rằng đây là bệnh của sự no đủ do ăn quá nhiều thịt và các chất béo.

Bệnh ung thư đại - trực tràng có thể sảy ra ở cả nam và nữ, có thể xuất hiện ở mọi lứa tuổi, nhưng thường được tìm thấy ở những người 50 tuổi trở lên và nguy cơ mắc bệnh tăng dần theo tuổi. Ngoài yếu tố tuổi cao, những người cũng dễ mắc bệnh hơn là những người có anh chị em hoặc cha mẹ mắc bệnh ung thư hay polyp đại trực tràng, người bị bệnh viêm loét đại trực tràng, người bệnh đa polyp đại tràng, có hội chứng di truyền như polyp gia đình (FAP) hoặc ung thư đại trực tràng không polyp di truyền.

Các triệu chứng thường gặp của ung thư đại - trực tràng là đi ngoài ra máu, rối loạn tiêu hóa như tiêu chảy kéo dài, táo bón, đôi khi xen kẽ nhau. Đau bụng và sút cân là những triệu chứng muộn của bệnh. Đáng tiếc là các polyp hay ung thư ở giai đoạn sớm thường không gây triệu chứng gì khó chịu.

Việc thường xuyên xét nghiệm tầm soát ung thư đại - trực tràng sẽ giúp phát hiện sớm bệnh. Các biện pháp điều trị bệnh ung thư đại - trực tràng cũng được cải tiến, cho phép tăng hiệu quả trong việc điều trị. Thông thường, phát hiện sớm ung thư đại - trực tràng sẽ có thể cho phép điều trị khỏi bệnh hoàn toàn. Theo một số nghiên cứu tại Mỹ: tỷ lệ sống được 5 năm sau mổ là 90% nếu ung thư còn trong lòng ruột, 50% nếu ung thư đă ăn qua thành ruột, chưa ăn vào hạch, còn 30% khi u đã ăn vào hạch và 10% nếu đã di căn vào tạng.

Tại Vietlife chúng tôi triển khai các xét nghiệm đồng bộ để phát hiện sớm nhất có thể các khối u, vùng ung thư, hoặc vùng dị thường khác:

    Xét nghiệm thử máu trong phân (FOBT): Đôi khi bệnh ung thư hoặc khối u gây xuất huyết, và xét nghiệm FOBT có thể phát hiện ra các mẩu máu nhỏ li ti trong phân. Nếu kết quả xét nghiệm này cho thấy có máu, các xét nghiệm khác sẽ cần được tiến hành để tìm nguồn gốc của việc xuất huyết này. Các bệnh u lành tính (như hemorrhoids), cũng có thể gây xuất huyết trong phân.
    Xét nghiệm Turmo marker/ dấu ấn ung thư: CEA (Carcino- Embrionic antigen), giới hạn bình thường < 10 ng/ml
    Nội soi phần dưới ruột già (Sigmoidoscopy): khám trực tràng và phần dưới của đại tràng bằng ống nhựa có gắn đèn (nội soi phần dưới ruột già). Nếu khối u (lành tính có thể dẫn đến ung thư) bị phát hiện, chúng sẽ bị cắt bỏ.
    Nội soi ruột già (Colonoscopy): nội soi trực tràng và toàn bộ đại tràng bằng ống nhựa dài có gắn đèn (nội soi ruột già). Nếu khối u (lành tính có thể dẫn đến ung thư) bị phát hiện, chúng sẽ bị cắt bỏ.
    Chụp hình đại tràng cản quang: Quy trình này sẽ được thực hiện bằng cách bơm vào đại tràng và trực tràng một loại dung dịch màu trắng (barium) để nâng cao chất lượng ảnh chụp X-quang. Abnormalities (như các khối u) có thể nhìn thấy rõ.
Read more…

Xét nghiệm ung thư tuyến tiền liệt có độ nhạy 95%

TT - Một kỹ thuật xét nghiệm máu mới vừa được trình bày tại hội nghị ung thư sinh dục - phố San Fransisco (Mỹ) đã cho thấy xét nghiệm này có thể giúp chẩn đoán một cách chính xác bệnh ung thư tuyến tiền liệt hơn so với kỹ thuật xét nghiệm máu hiện nay. Điều này có thể giúp bệnh nhân tránh được những thủ thuật sinh thiết không cần thiết để chẩn đoán.

Kỹ thuật này được các nhà khoa học tại Công ty dược phẩm Panacea phát triển dựa trên xét nghiệm máu đo nồng độ một loại protein gọi là HAAH. So với kỹ thuật xét nghiệm máu hiện nay để định lượng protein PSA, xét nghiệm này có độ nhạy 95% và độ đặc hiệu 93% (trong khi đó PSA có độ nhạy 30% và độ đặc hiệu 40%). Vì vậy, nó đã làm giảm số trường hợp sinh thiết không cần thiết từ 75% xuống 10%.

Theo bác sĩ Eric A Klein, trưởng khoa ung thư tiết niệu tại Cleveland Clinic, đồng thời là người phát ngôn cho Hiệp hội Ung thư lâm sàng Mỹ (ASCO), nếu được FDA chấp thuận, nó sẽ là một xét nghiệm giúp chẩn đoán chính xác ung thư tuyến tiền liệt.
Read more…

Xét nghiệm máu có thể phát hiện ung thư phổi

Trong một nghiên cứu mới đây, các bác sỹ của Canađa thông báo có thể phát hiện bệnh ung thư phổi qua một xét nghiệm máu đơn giản.

Các bác sỹ này cho biết để xác định bệnh nhân bị ung thư hay chỉ bị tổn thương phổi, khoa học hiện dùng biện pháp chụp cắt lớp CT, tuy nhiên tỷ lệ sai khá cao khiến nhiều bệnh nhân phải chịu hàng loạt các thủ tục xét nghiệm kỹ lưỡng hơn như phải chụp cắt lớp CT hàng loạt, chụp PET hay sinh thiết.

Để tránh những phiền phức trên cho bệnh nhân, các bác sỹ chỉ cần thực hiện một xét nghiệm máu nhỏ để kiểm tra gien nhằm xác định có mắc bệnh ung thư phổi hay không. Đây là một nghiên cứu có giá trị và đầy hứa hẹn. Tuy nhiên cần phải mất thêm vài năm thử nghiệm trước khi đưa vào áp dụng rộng rãi.
Read more…

Chết do trì hoãn xét nghiệm chẩn đoán ung thư sớm

Theo kết quả bản báo cáo từ Trung tâm nghiên cứu ung thư Vương quốc Anh công bố ngày 6/3, trong những năm gần đây có hàng ngàn người Anh phải chết một cách đáng tiếc vì sợ hãi và từ chối các xét nghiệm chẩn đoán sớm căn bệnh ung thư.

Dữ liệu điều tra trên của Anh cho thấy trong tổng số 2000 người được hỏi, có tới 40% trì hoãn các xét nghiệm phát hiện triệu chứng ung thư vì họ sợ rằng mình có thể bị bệnh.

Giáo sư Peter Johnson, người đứng đầu nghiên cứu trên cho biết: "Nếu bệnh nhân được chẩn đoán khi bệnh ung thư chỉ mới ở giai đoạn đầu, trước khi nó có cơ hội lây lan sang các bộ phận khác của cơ thể thì bệnh nhân sẽ có nhiều khả năng được chữa trị thành công. Đây là lý do tại sao việc khám bệnh trở nên quan trọng."

Kết quả cuộc thăm dò cho thấy có tới 1/4 bệnh nhân tại Anh trì hoãn việc gặp bác sỹ gia đình để kiểm tra vì họ nghĩ mình không có bệnh và sợ làm lãng phí thời gian của bác sỹ do không nhận ra bất kỳ triệu chứng nào của bệnh ung thư. Hơn 3/4 những người được điều tra cho rằng họ không có bất kỳ dấu hiệu nào cảnh báo bệnh như đau, ho hoặc các vấn đề với ruột hoặc bàng quang. Và hơn 2/3 cho thấy không hề xuất hiện triệu chứng chảy máu.

"Tất nhiên chúng ta rất sợ khi nghe tin mình bị ung thư nhưng mọi người nên biết rằng phát hiện bệnh sớm từ những thay đổi bất kỳ của cơ thể sẽ giúp người bệnh có tỷ lệ sống sót rất cao. Dù bất kỳ lý do gì chúng ta cũng không nên đánh cuộc với mạng sống của mình chỉ vì sợ hãi," Johnson cho biết.

Hiện, Viện nghiên cứu Ung thư Anh đã hợp tác với Tesco huy động 10 triệu bảng để tài trợ cho 32 dự án nghiên cứu chẩn đoán sớm căn bệnh hiểm nghèo này trên khắp nước Anh và sẽ tiến hành phát tờ rơi cảnh báo về các dấu hiệu sớm bệnh tới mọi người dân./.
Read more…

Xét nghiệm tầm soát ung thư kết tràng có thể giúp cứu sống nhiều mạng người

Mặc dù ung thư phổi (đối với đàn ông) và ung thư vú (đối với phụ nữ) là những căn bệnh ung thư phổ biến nhất ở Singapore, nhưng thật ra ung thư kết tràng mới là phổ biến nhất nếu tính tổng số lượng cả đàn ông lẫn phụ nữ.

Tuy vậy, khi chụp hình thì ảnh các khối u kết tràng ít hơn nhiều so với các khối u ở ngực. Ung thư kết tràng, hay Ung thư ruột, có thể điều trị được nếu được chẩn đoán sớm.

Nếu chúng ta đi khám soi kết tràng ba năm một lần, thì hầu như không ai sẽ tử vong vì bệnh ung thư kết tràng. Sẽ có rất ít người cần phải đi phẫu thuật kết tràng và thậm chí sẽ có ít người cần đến một biện pháp phẫu thuật được gọi là kỹ thuật mở thông ruột kết.

Kỹ thuật mở thông ruột kết liên quan đến việc nối một phần của kết tràng vào thành mạc bụng trước, để lại một lỗ hở trên ổ bụng gọi là lỗ thông.

Trong phẫu thuật mở thông ruột kết, lỗ thông được tạo ra từ phần cuối của đại tràng, và được nối ra ngoài qua đường rạch và được khâu vào da. Sau khi phẫu thuật mở thông ruột kết, phân của bệnh sẽ được thải ra ngoài qua lỗ thông này. Tùy theo lý do sử dụng đến lỗ thông, nên nó có thể là tạm thời hay lâu dài.

Vậy điều gì đã khiến người ta không muốn tiến hành xét nghiệm tầm soát? Có ba lý do như sau: Chi phí, sự bất tiện, và các thủ tục phẫu thuật.

Trước khi phẫu thuật mở thông ruột kết, ruột phải được “rửa sạch”. Tối hôm trước, bệnh nhân uống hai lít nước được pha thêm một loại thuốc nước có mùi vị rất khó chịu nhằm giúp súc ruột. Sau đó, bệnh nhân phải ngồi trong cầu tiêu hàng giờ liền.

Khi nội soi ruột già, đèn nội soi được đưa vào hậu môn và được cẩn thận đưa lên đến trực tràng, đi qua hết trực tràng đến tận ruột tịch – manh tràng (nơi giao nhau giữa ruột non và ruột già). Bệnh nhân không cảm thấy khó chịu bởi vì thủ thuật này thường được tiến hành kết hợp dùng thuốc giảm đau loại nhẹ.

Vài năm trước đây, tôi đã quyết định thực hành những gì tôi giảng dạy và đã tiến hành thủ thuật nội soi ruột già lần đầu tiên. Như mong đợi, quy trình chuẩn bị nội soi ruột không có gì thú vị. Ngày hôm sau, tôi bắt đầu đi vòng thăm bệnh vào lúc 6g30 sáng như thường lệ. Khoảng tầm 8 giờ sáng, tôi nhận được 1 cuộc điện thoại từ đồng nghiệp của mình, một bác sĩ phẫu thuật kết tràng, nói với tôi là đã có sẵn bộ dụng cụ phẫu thuật nội soi.

Tôi lao nước kiệu xuống cầu thang tới ngay phòng hậu phẫu, thay bộ “baju” của bệnh viện vào và được đặt lên giường lăn đẩy đi. Một bác sĩ gây mê, một người bạn tốt khác, đã cắm kim tiêm vào tĩnh mạch và nói, “Được rồi, anh sẽ cảm thấy nhói đau một chút khi tiêm thuốc gây mê có tác dụng…” Đèn tắt.

Điều tiếp theo mà tôi biết là tôi đã trở lại phòng hậu phẫu và bác sĩ phẫu thuật kết tràng ở đó và cho tôi biết mọi thứ một cách rõ ràng. Việc đó thật bình thường. Tôi thay quần áo rồi tiếp tục đi thăm bệnh như là không có gì đã xảy ra. Phương pháp đơn giản này có thể cứu sống nhiều người.

Mỗi năm, có khoảng 2.000 trường hợp bệnh ung thư kết tràng được chẩn đoán và phát hiện. Ung thư kết tràng không phải phát triển chỉ qua một sớm một chiều. Người ta tin rằng bệnh ung thư kết tràng phải mất ít nhất hai năm hoặc nhiều hơn nữa để phát triển. Các chỗ ung thư này bắt đầu từ những u lành tính (còn được gọi là các bướu thịt) ở trên màng trong của ruột. Các bướu thịt này dễ dàng phát hiện khi nội soi ruột già và có thể cắt bỏ cùng lúc không mấy khó khăn. Khi đã bị cắt bỏ các bướu thịt này không có cơ hội để gây ra ung thư nữa.

Tuy nhiên, qua nhiều năm, tôi đã được nhắc nhở nhiều lần rằng y học không chỉ dùng để điều trị trên cơ thể bệnh nhân, mà còn phải còn dùng để tôn trọng những quyết định của bệnh nhân. Đôi khi điều này lại kéo theo đôi chút phiền toái.

Tôi có một bệnh nhân, một người đàn ông chạc 70 tuổi, tôi đã chăm sóc ông ấy 5 tháng qua. Ông ấy được chuẩn đoán là bị ung thư kết tràng – trong trường hợp của ông ấy là ung thư trực tràng – khoảng 1 năm trước đây. Chỗ ung thư nằm chỉ cách lỗ hậu môn khoảng 4 cm. Do vị trí nằm của chỗ ung thư, việc phẫu thuật này sẽ dẫn đến việc phải cắt bỏ các khối u cùng với hậu môn của ông ấy.

Vì ông ta không thể kiểm soát được chất thải ra sau khi phẫu thuật (được gọi là phẫu thuật cắt bỏ đáy chậu ổ bụng), một lỗ thông ở thành bụng ông ấy được tạo ra để cho phép thải phân của ông ấy vào một cái túi làm giả hậu môn. Bác sĩ phẫu thuật đã cố gắng thuyết phục ông ấy về tầm quan trọng của cuộc phẫu thuật nhưng ông ta đã dứt khoát từ chối. Ông ấy không nghe theo và không gặp tôi sau đó nhiều tháng cho đến khi ông ấy gặp khó khăn trong việc đi lại.

Tính cho đến trước khi ông ấy ta gặp lại tôi, thì phương pháp chụp X-quang bằng máy vi tính (CT) đã cho thấy hai cục u nhỏ ở phổi, cho thấy ung thư đã chuyển sang giai đoạn di căn. Tuy nhiên, sau sáu chu kỳ hoá trị, thì phim chụp đã trở lại bình thường, điều đó thật là tuyệt.

Nắm lấy cơ hội này, tôi đã dành một thời gian dài giải thích về lợi ích tiềm năng của phẫu thật nhưng vẫn không thuyết phục được ông ấy. Người đàn ông kiệm lời, ông ta nói bằng tiếng Hokkien: “Không! Không là không!”

Nhiều người sợ bị làm nhục và sợ gặp rắc rối. Trên thực tế, tiến hành phẫu thuật mở thông ruột kết không phải là loại hình phẫu thuật phức tạp. Những người đã tiến hành phẫu thuật thông ruột kết nói với tôi rằng ban đầu việc đó cũng mất chút ít thời gian để làm quen, nhưng rồi thì nó cũng không khác gì việc thay tã giấy cả.

Hội Ung Thư Singapore có một nhóm trợ giúp về bệnh ung thư gọi là Câu Lạc Bộ Stoma. Những người tình nguyện, bản thân họ cũng từng phẫu thuật mở thông ruột kết, kêu gọi những bệnh nhân trước và sau khi phẫu thuật bằng những lời khuyên và trợ giúp về mặt xã hội cũng như tâm lý.

Tôi đã cho bệnh nhân của tôi số điện thoại nóng để gọi cho tôi. Hy vọng rằng, vào thời điểm này, ông ấy sẽ chọn “làm mới” cuộc đời mình cùng với một cái lỗ thông thay vì chọn việc chết dần do bị ung thư trực tràng.

Đây là căn bệnh ung thư cuối cùng trong một loạt chương trình gồm ba phần về ba căn bệnh ung thư thường gặp ở Singapore: ung thư phổi, ung thư vú và ung thư kết tràng.

Bs. Ang, giám đốc y tế của Trung Tâm Ung Thư Parkway, đã điều trị cho các bệnh nhân ung thư gần 20 năm qua. Năm 1996, ông được trao tặng giải thưởng khoa học của Singapore vì những đóng góp to lớn của mình trong nghiên cứu y học.

2.000 trường hợp mới ung thư kết tràng được chẩn đoán mỗi năm
Read more…

Các xét nghiệm chẩn đoán ung thư

Các xét nghiệm chuẩn đoán ung thư
CÁC XÉT NGHIỆM CHẨN ĐOÁN UNG THƯ (TUMOR MARKER)

Ung thư (K) là một trong các bệnh có tỷ lệ tử vong cao nhất. Ung thư ở những nơi khác nhau có tỷ lệ tử vong khác nhau tùy theo nơi nó phát sinh như: K phổi, K vú, K đại tràng, K vòm họng, K bàng quang, K gan…
I. Có nhiều yếu tố gây ung thư như:
- Các chất hóa học như hydrocarbua đa vòng (HCPC).
- Yếu tố vật lý như tia X, tia (, (.. .
- Yếu tố sinh học như virut gây viêm gan B (HBV), virut gây viêm gan C (HCV). HBV, HCV là 2 virut có khả năng gây ung thư gan nguyên phát.
II. Để chẩn đoán bệnh ung thư (K)
Các bác sĩ có thể sử dụng nhiều phương pháp khác nhau như phương pháp vật lý, phương pháp giải phẫu bệnh và phương pháp hóa sinh thông qua việc xác định dấu ấn ung thư “ Tumor marker”. Mỗi phương pháp có ưu và nhược điểm riêng:
- Phương pháp giải phẫu bệnh cung cấp cho chúng ta thông tin "vàng" về khối u, nhưng hạn chế về mặt tâm lý, đau khi chọc hút sinh thiết.
- Phương pháp hóa sinh “enzym-miễn dịch” xác định chính xác các Tumor marker, chỉ cần lấy máu hoặc nước tiểu để xét nghiệm nên dễ dàng hơn và cũng cho chính  xác bản chất bệnh ung thư mà không gây đau nhiều cho bệnh nhân.
III. Tumor marker - dấu ấn ung thư - chất chỉ điểm bệnh ung thư
Tumor marker gồm những chất có bản chất như:
- Là chất do tế bào K sinh ra, được đưa vào máu như AFP, CEA, CA-125, CYFRA 21-1...
- Là hormon như (-HCG hoặc là chất chuyển hóa như CPR (Protein C hoạt động), LDH, GGT.
IV. Cơ chế gây ung thư:
     Các chất hóa học (như HCPC), các yếu tố vật lý (như tia X, tia (, () có thể làm thay đổi bộ máy thông tin di truyền ở người, biến đổi gen tiền ung thư  (Proto-oncogen) thành gen ung thư (Oncogen = gen K). Virut đưa thông tin của chúng vào cơ thể, hợp nhất với thông tin của tế bào người, tổng hợp ADN theo mã thông tin virut, kết quả là tổng hợp nên ADN, ARN của virut trong tế bào người.
V. Tiêu chuẩn của Tumor marker:
1. Các marker để chẩn đoán bệnh ung thư  có một số tiêu chuẩn sau:

.  Đặc hiệu tổ chức, khác với phân tử do tế bào lành (bình thường) tổng hợp ra.
.  Đặc hiệu cơ quan, chỉ điểm được cơ quan bị ung thư.
.  Dễ lấy, bảo quản các bệnh phẩm như huyết tương, nước tiểu.
.  Có độ nhạy cao và phản ánh được tiến triển của khối u.
.  Phát hiện được ở nồng độ thấp do đó có khả năng phát hiện sớm (chẩn đoán sớm) được bệnh.
2. Lượng Tumor marker cho phép theo dõi:
.  Tiến triển của bệnh.
.  Hiệu quả điều trị.
.  Tiên lượng tình trạng bệnh nhân.
-  Ưu điểm của các Tumor marker
Các Tumor marker có những ưu điểm sau:
- Đặc hiệu cho ung thư (vị trí khu trú).
- Nồng độ Tumor marker tỷ lệ với thể tích khối u.
- Phát hiện được từ giai đoạn sớm của bệnh.
- Xác định được một cách chính xác nồng độ Tumor marker. 
Phương pháp enzyme-miễn dịch xác định Tumor marker (phương pháp Sandwich)
Marker là một kháng nguyên được chêm (kẹp) giữa 2 kháng thể đơn dòng. Kháng thể thứ nhất được gắn vào thành ống nghiệm, kháng thể thứ 2 được gắn với chất phát tin (chất đồng vị phóng xạ, chất huỳnh quang hoặc là enzym), nên khi có kháng nguyên do tế bào K tiết ra trong huyết tương thì kháng thể sẽ kẹp lấy, tạo thành phản ứng kháng nguyên–kháng thể, phức hợp KN-KT này sẽ được phát hiện nhờ chất phát tín hiệu: tia phóng xạ với chất phát tín là phóng xạ, phát ánh sáng huỳnh quang nếu chất phát tín hiệu là chất huỳnh quang, nếu chất phát tín hiệu là enzym thì nhờ phản ứng enzym – màu để xác định. Thường dùng enzym peroxidase (POD) để phân hủy H2O2 thành H2O và oxy, oxy này oxy hóa một chất không màu thành chất có màu, cường độ màu tỷ lệ với nồng độ phức hợp KN-KT, tức là tỷ lệ với nồng độ kháng nguyên cần xác định.
Kỹ thuật xác định Tumor maker theo phương pháp này có thể tóm tắt như sau (Hình 1):

Hình 1: Phư­ơng pháp Sandwich
1. Pha rắn
2. Kháng thể đơn dòng I.
3. Kháng nguyên (Tumor Marker).
4. Kháng thể II và chất phát tin
(phóng xạ hay huỳnh quang hoặc enzym).
(1) Pha rắn (Steptavidin) - một lớp tráng gắn vào mặt trong thành ống nghiệm.
(2) Kháng thể đơn dòng I - gắn vào thành ống nghiệm.
(3) Kháng nguyên (Tumor Marker) - có trong huyết tương do tế bào K tiết ra, lúc đó kháng thể I gắn với kháng nguyên tạo phức hợp KN - KT (nhưng chưa phát hiện được).
(4) Kháng thể II gắn chất phát tin (phóng xạ, huỳnh quang, enzym) sẽ kết hợp với phần KN thích hợp. Như vậy, 2 kháng thể đã kẹp kháng nguyên vào giữa (Sandwich), lúc này phức hợp KN-KT nhờ chất phát tín mà ta có thể phát hiện và xác định được.
Phương pháp hóa sinh thư­ờng dùng chất phát tin là enzym và phản ứng phát hiện kháng nguyên-kháng thể như ­ sau:
KN-KT-enzym
(POD)

H2O2 s H2O + O

Chất không màu Chất màu.
Trong đó: POD là peroxidase.
Sau khi thực hiện phản ứng cần rửa bỏ kháng thể thừa, chỉ còn phức hợp KN-KT-chất phát tín hiệu. Hiện nay kỹ thuật mới TRACE (time resolved amplified criptate emission) không cần giai đoạn phải tách rửa do dùng fluorophore gắn với kháng thể đặc hiệu.
3. Một số Tumor Marker để chẩn đoán bệnh ung thư
Có thể tham khảo các Tumor Marker chẩn đoán bệnh ung thư theo bảng 9.1 và hình 9.2 dưới đây.
Bảng 1: Một số Tumor marker chẩn đoán bệnh ung thư.
Tumor Marker Bệnh ung thư
AFP ( Alphafoeto- protein)
(Bình thường < 10 ng/ml)
Ung thư gan
CEA (Carcino- Embrionic antigen)
(Bình thường  < 10 ng/ml)
Ung thư trực tràng
CA15-3 (Cancer antigen 15-3)
(Bình thường < 30 U/l)
Ung thư  vú
CA 125 (Cancer Antigen 125)
(Bình thường < 35 U/l)
Ung thư buồng trứng
CYFRA21-1 (Cytokeratin19 fragment)
(Bình thường < 1,8 ng/ml)
Ung thư phổi
PSA và FPSA (Prostate specific antigen)
Bình thường: < 50 tuổi < 1,5 ng/ ml
                      > 50 tuổi  > 5 ng/ ml
Ung thư tuyến tiền liệt
CSC (Squamous cell carcinoma) // CYFRA21-1
CA72-4 // CA 19- 9, CEA
Calcitonin // CEA
TPA (Tissue polypeptide antigen)
CA 19- 9 // CEA; SCC // CYFRA21- 1
CA 19- 9 // CEA, CA 50
(-HCG, AFP
Ung thư tai-mũi-họng
Ung thư dạ dày
Ung thư tuyến giáp
Ung thư bàng quang
Ung thư thực quản
Ung thư tụy
Ung thư tinh hoàn
Read more…

Xét nghiệm PSA giảm tử vong do ung thư tuyến tiền liệt

Nam giới được sàng lọc giảm 21% nguy cơ tử vong do ung thư tuyến tiền liệt.

Một nghiên cứu châu Âu báo cáo rằng nam giới được xét nghiệm kháng nguyên đặc hiệu tuyến tiền liệt (PSA) thường quy để kiểm tra các dấu hiệu ung thư tuyến tiền liệt giảm khả năng tử vong do bệnh này.

Trong nghiên cứu mới này, các nhà khoa học đã xem xét hồ sơ bệnh án của hơn 160.000 nam giới tại 8 quốc gia châu Âu. 

Những người tham gia độ tuổi từ 55 – 69 tại thời điểm bắt đầu nghiên cứu. Một số được chia ngẫu nhiên để thực hiện các xét nghiệm sàng lọc PSA.

Sau thời gian trung bình là 11 năm, nam giới được sàng lọc giảm 21% nguy cơ tử vong do ung thư tuyến tiền liệt. 

Các kết quả nghiên cứu được đăng trên số ra ngày 15/3 của tạp chí New England Journal of Medicine. 

Tiến sĩ Anthony Miller, thuộc Trường Y tế công cộng Đại học Toronto, khuyến cáo rằng xét nghiệm PSA chỉ nên thực hiện ở nam giới có các triệu chứng rõ về ung thư tuyến tiền liệt hoặc sử dụng để theo dõi điều trị cho nam giới bị ung thư tuyến tiền liệt. Ông không khuyến nghị sàng lọc thường quy cho nam giới khỏe mạnh.
Read more…

Ung thư buồng trứng có xét nghiệm mới

Các bác sĩ ví ung thư buồng trứng như một kẻ giết người thầm lặng nhưng phương pháp mới này sẽ giúp phát hiện khối u khi còn rất nhỏ.
ung-thu-buong-trung22 Ung thư buồng trứng có xét nghiệm mới 
Ung thư buồng trứng có xét nghiệm mới

Phát hiện theo cách nào?

Xét nghiệm sẽ tính lượng protein có tên HE4 trong máu. Nếu lượng HE4 ít thì là bình buồng trứng hoàn toàn bình thường nhưng ung thư sẽ tạo ra rất nhiều protein này, vì vậy nồng độ cao sẽ là dấu hiệu cho thấy nguy cơ.
Một xét nghiệm khác là protein CA125, dấu hiệu chính xác cho thấy phụ nữ bị ung thư buồng trứng.
2 xét nghiệm này được thực hiện cùng 1 lúc sẽ giúp bác sĩ đưa ra chẩn đoán chính xác.

Các xét nghiệm hiện nay ra sao?

Hiện không có một chương trình tầm soát ung thư buồng trứng nhưn nếu có biểu hiện thì test CA125 sẽ được áp dụng.
Có 2 vấn đề với xét nghiệm này: đầu tiên, nó chỉ phát hiện được nửa số ca ung thư buồng trứng, có nghĩa là một nửa còn lại không phát hiện ra. Thứ 2, nó cũng là dấu hiệu cho thấy những bệnh khác, không chỉ là ung thư buồng trứng, vì thế nó không thực sự đặc trưng.
Test HE4 sẽ mang tính đặc trưng của ung thư buồng trứng hơn.

Tại sao siêu âm lại quan trọng?

Ung thư buồng trứng là một kẻ giết người thầm lặng bởi vì các triệu chứng có xu hướng xuất hiện khi khối u đã tương đối phát triển. Bệnh này vì thế rất khó chẩn đoán và tỉ lệ tử vong cao. Việc siêu âm sẽ hỗ trợ chẩn đoán tốt hơn và cơ hội sống sẽ nhiều hơn.
Read more…

Xét nghiệm tuyến nước bọt chuẩn đoán ung thư

Các nhà khoa học tại Trường đại học Texas (Mỹ) đang phát triển công nghệ quét hình ảnh thông qua kiểm tra tuyến nước bọt để có thể phát hiện sớm các khối u trên vú khi ở giai đoạn có thể chữa trị được.
ncbot Kiểm tra tuyến nước bọt phát hiện sớm ung thư vú
Qua kiểm tra thử nghiệm nước bọt của 30 phụ nữ, trong đó có 10 người khỏe mạnh, 10 người bị khối u ác tính và 10 người còn lại có khối u lành cho thấy mẫu protein của mỗi nhóm nói trên khác nhau. Các nhà nghiên cứu đã xác định được 49 loại protein có trong nước bọt mà nhờ đó, có thể dễ dàng theo dõi và phân biệt được giữa những người có khối u lành và những người có khối u ác tính. Bệnh ung thư vú sẽ làm thay đổi chất và số lượng của protein ẩn chứa trong tuyến nước bọt.
Phương pháp kiểm tra này là giải pháp dễ thực hiện, chi phí thấp hơn nhữngphương pháp hiện hành và có hiệu quả cao.
Read more…

Xét nghiệm chẩn đoán ung thư

Theo kết quả bản báo cáo từ Trung tâm nghiên cứu ung thư Vương quốc Anh công bố ngày 6/3, trong những năm gần đây có hàng ngàn người Anh phải chết một cách đáng tiếc vì sợ hãi và từ chối các xét nghiệm chẩn đoán sớm căn bệnh ung thư.
9 3 2012 9 3 2012 ttg4 Nguy cơ từ việc trì hoãn xét nghiệm chẩn đoán ung thư sớm
Dữ liệu điều tra trên của Anh cho thấy trong tổng số 2000 người được hỏi, có tới 40% trì hoãn các xét nghiệm phát hiện triệu chứng ung thư vì họ sợ rằng mình có thể bị bệnh.
Giáo sư Peter Johnson, người đứng đầu nghiên cứu trên cho biết: “Nếu bệnh nhân được chẩn đoán khi bệnh ung thư chỉ mới ở giai đoạn đầu, trước khi nó có cơ hội lây lan sang các bộ phận khác của cơ thể thì bệnh nhân sẽ có nhiều khả năng được chữa trị thành công. Đây là lý do tại sao việc khám bệnh trở nên quan trọng”.
Kết quả cuộc thăm dò cho thấy có tới 1/4 bệnh nhân tại Anh trì hoãn việc gặp bác sỹ gia đình để kiểm tra vì họ nghĩ mình không có bệnh và sợ làm lãng phí thời gian của bác sỹ do không nhận ra bất kỳ triệu chứng nào của bệnh ung thư. Hơn 3/4 những người được điều tra cho rằng họ không có bất kỳ dấu hiệu nào cảnh báo bệnh như đau, ho hoặc các vấn đề với ruột hoặc bàng quang. Và hơn 2/3 cho thấy không hề xuất hiện triệu chứng chảy máu.
“Tất nhiên chúng ta rất sợ khi nghe tin mình bị ung thư nhưng mọi người nên biết rằng phát hiện bệnh sớm từ những thay đổi bất kỳ của cơ thể sẽ giúp người bệnh có tỷ lệ sống sót rất cao. Dù bất kỳ lý do gì chúng ta cũng không nên đánh cuộc với mạng sống của mình chỉ vì sợ hãi,” Johnson cho biết.
Hiện, Viện nghiên cứu Ung thư Anh đã hợp tác với Tesco huy động 10 triệu bảng để tài trợ cho 32 dự án nghiên cứu chẩn đoán sớm căn bệnh hiểm nghèo này trên khắp nước Anh và sẽ tiến hành phát tờ rơi cảnh báo về các dấu hiệu sớm bệnh tới mọi người dân.
Read more…

Xét nghiệm để tránh ung thư cổ tử cung

Thử phết mỏng và xét nghiệm HPV là những phương pháp chụp chiếu ung thư cổ tử cung. Người phụ nữ có thể được kiểm tra thường xuyên để tránh bị ung thư cổ tử cung. Đây là loại ung thư phổ biến thứ hai mà phụ nữ trên toàn thế giới hay mắc phải mà nguyên nhân chủ yếu là do lây nhiễm bệnh hoa liễu, vi rút gây u nhú ở người (HPV).

Xét nghiệm HPV là gì?

Xét nghiệm HPV giúp phát hiện các loại HPV nguy hiểm có thể dẫn đến ung thư cổ tử cung. Quá trình thử nghiệm giống như thử phết mỏng. Mẫu tế bào được lấy từ cổ tử cung rồi gửi đến một phòng thí nghiệm để phân tích.

Những ai nên xét nghiệm HPV?

Bác sĩ có thể đề nghị xét nghiệm HPV đối với:

    Phụ nữ có tế bào bất thường sau khi thử phết mỏng hoặc khi kết quả thử phết mỏng không rõ ràng

    Phụ nữ trên 30 khi họ thử phết mỏng

Xét nghiệm HPV không khuyến khích áp dụng cho tất cả phụ nữ.

Đối với phụ nữ 30 tuổi trở lên, xét nghiệm HPV có thể được thực hiện cùng một lúc với thử phết mỏng. Nếu cả hai kết quả là bình thường, nguy cơ mắc bệnh ung thư cổ tử cung là rất thấp. Họ sẽ không cần thử phết mỏng hay xét nghiệm HPV trong ba năm. Một số phụ nữ từ 30 tuổi trở lên xem đây là sự lựa chọn tốt hơn so với việc thử phết mỏng mỗi năm.

Điều gì xảy ra nếu tôi có kết quả thử phết mỏng bất thường?

Nhiều phụ nữ có kết quả thử phết mỏng bất thường, điều đó không có nghĩa là bạn bị ung thư cổ tử cung.

Lời khuyên của bác sĩ đưa ra tùy thuộc bạn chỉ thử phết mỏng hoặc bạn thử phết mỏng lẫn xét nghiệm HPV.

Chỉ thử phết mỏng

Nếu bạn có kết quả thử phết mỏng không rõ ràng hoặc bất thường, bạn có thể được khuyên nên thử lại, hoặc xét nghiệm HPV, và/hoặc làm các xét nghiệm khác như nội soi âm đạo – một thủ thuật giúp bác sĩ quan sát gần hơn cổ tử cung của bạn .Nếu bác sĩ phát hiện tế bào bất thường trong khi soi âm đạo, bạn có thể cần phải điều trị. Phương pháp điều trị thường bao gồm liệu pháp lạnh và cắt đốt bằng vòng nhiệt điện.

Tôi phải làm gì để ngăn chặn ung thư cổ tử cung?

Bạn có thể làm giảm nguy cơ ung thư cổ tử cung bằng cách chụp chiếu ung thư cổ tử cung thường xuyên, hay sử dụng bao cao su  khi quan hệ cũng như  tham vấn bác sĩ về việc có nên chủng ngừa HPV hay không. Bao cao su giúp giảm sự lây lan của HPV bằng cách ngăn ngừa một số loại (nhưng không phải tất cả) bệnh lây lan qua da khi quan hệ.

Ngoài ra, nhiều nghiên cứu cho thấy sử dụng bao cao su phù hợp có thể ngăn các bệnh lây nhiễm do HPV lâu dài. Hãy nhớ rằng chỉ có một số bệnh lây nhiễm do HPV lâu dài mới dẫn đến ung thư.

Nếu bạn hút thuốc thì hãy “cai” đi nhé, vì hút thuốc làm tăng nguy cơ mắc bệnh ung thư cổ tử cung do các loại HPV nguy hiểm gây ra.

Hãy đặt câu hỏi!

Kiến thức là một yếu tố quan trọng để giữ gìn sức khỏe. Do đó, bạn hãy tham vấn bác sĩ về nguy cơ dẫn đến ung thư cổ tử cung. Nếu bạn có thắc mắc về bệnh ung thư cổ tử cung, HPV, hoặc bất kỳ vấn đề khác về sức khỏe tình dục, hãy liệt kê ra trước khi gặp bác sĩ. Nếu bạn sợ “khớp” khi đặt câu hỏi, hãy thực hành ở nhà với một người bạn hoặc một thành viên trong gia đình.
Read more…

Xét nghiệm ung thư vú bằng sữa mẹ

Sữa mẹ có thể được xét nghiệm để dự báo về nguy cơ mắc bệnh ung thư vú ở những phụ nữ sau khi họ sinh con, theo nghiên cứu mới được công bố của các nhà khoa học thuộc trường Đại học Massachusetts (Mỹ).

Các tế bào trong sữa mẹ có thể dễ dàng được kiểm tra để đánh giá liệu các bà mẹ có mang trong mình gen gây ra bệnh ung thư hay không. Với 80% phụ nữ có con, các nhà khoa học tin tưởng rằng xét nghiệm sữa mẹ là một phương pháp rẻ và đơn giản để kiểm tra nguy cơ mắc ung thư vú ở phụ nữ.

Theo tờ Daily Mail, các nhà khoa học thuộc Đại học Massachusetts đã tiến hành lấy mẫu sữa của hơn 250 bà mẹ sau khi sinh con. Những phụ nữ này đồng thời cũng được lấy mẫu sinh thiết để kiểm tra xem có mắc bệnh ung thư vú hay không.

Sau đó, nhóm nghiên cứu kiểm tra DNA của sữa để đánh giá liệu có sự thay đổi gen bất thường – một trong những dấu hiệu sớm của bệnh ung thư vú. Kết quả cho thấy, những phụ nữ được kiểm tra mẫu sinh thiết có tế bào ung thư cũng dương tính khi xét nghiệm bệnh ung thư bằng sữa mẹ.

Tiến sĩ Kathleen Arcaro, người đứng đầu nghiên cứu, nhấn mạnh: “Mặc dù nghiên cứu mới được tiến hành ở phạm vi nhỏ, nhưng chúng tôi khẳng định chúng ta có thể sử dụng các tế bào trong sữa mẹ để đánh giá nguy cơ mắc ung thư vú ở phụ nữ”.

Nhóm nghiên cứu hy vọng một ngày nào đó tất cả những phụ nữ sau khi sinh con tại bệnh viện sẽ được lấy mẫu sữa để xét nghiệm nguy cơ mắc ung thư vú. Tiến sĩ Kathleen nói thêm: “Chúng ta sẽ lấy một lượng nhỏ sữa non của các bà mẹ vừa sinh con và chúng ta có thể đánh giá được nguy cơ mắc ung thư vú của họ”.
Read more…

Phụ nữ nên sớm kiểm tra xét nghiệm ung thư vú

Một cuộc thử nghiệm kiểm tra phát hiện ung thư vú kéo dài suốt bảy năm ở Thụy Điển cho thấy lợi ích của việc kiểm tra phát hiện ung thư vú lớn hơn những gì người ta từng nghĩ.

Nghiên cứu từ các nhà khoa học Thụy Điển công bố trên tạp chí ‘Radiology’ số ra gần đây cho thấy việc chụp ngực phát hiện khối u giúp giảm tỉ lệ tử vong do ung thư vú ít nhất 30% và phương pháp này có thể cứu sống một số người nhiều năm sau khi xét nghiệm lần đầu.

Tuy nhiên, kết quả trên chưa giải đáp được vấn đề còn gây tranh cãi: phụ nữ nên thực hiện xét nghiệm phát hiện ung thư vú ở lứa tuổi nào.

Cuộc nghiên cứu bắt đầu từ năm 1977 và kết thúc 7 năm sau đó với sự tham gia của 130 ngàn phụ nữ. Họ được chia làm hai nhóm: một nhóm phụ nữ được kiểm tra ngực thường xuyên và nhóm còn lại không thực hiện các xét nghiệm định kỳ.
Nên sớm xét nghiệm ung thư

Hiện nay, các nhà nghiên cứu đang thực hiện một nghiên cứu tiếp nối để tìm hiểu bao nhiêu phụ nữ tham gia cuộc thử nghiệm năm 1977 tử vong do ung thư vú.

Giáo sư Stephen Duffy từ Đại học Queen Mary, London, cho biết nghiên cứu sau đã khẳng định những xét nghiệm chiếu chụp vùng ngực thực hiện cách đây 3 thập kỷ vẫn giúp cứu tính mạng nhiều người ngày nay.

“Một trong những điều thú vị nhất là hầu hết các ca tử vong ngăn chặn được sau khi chương trình thử nghiệm kết thúc, hơn 10 năm sau khi chương trình được đưa vào thực hiện”, giáo sư Stephen Duffy cho biết.

“Điều đó cho thấy chúng ta cần xét nghiệm sàng lọc ung thư vú. Việc làm này không cứu tính mạng con người ngày mai hay năm sau mà trong vài năm nữa. Và như vậy, số người được cứu sống sẽ tăng theo thời gian”.

Nhận định của giáo sư Stephen Duffy dựa trên kết quả cuộc thử nghiệm kéo dài 7 năm hơn 30 năm trước. Sự khác biệt giữa nhóm tham gia nghiên cứu và nhóm đối chứng trong nghiên cứu này chính là thời gian được kiểm tra định kỳ trong 7 năm từ cuối thập kỷ 70 tới đầu thập kỷ 80.

Phát hiện nghiên cứu cho thấy lợi ích dài hạn của việc xét nghiệm sàng lọc ung thư sớm cao hơn gấp đôi trong số những người được mời tham gia cuộc nghiên cứu nối tiếp ngắn hạn.
Úc: tranh luận về độ tuổi xét nghiệm ung thư vú

Bà Carole Renouf, Giám đốc điều hành Quỹ chống Ung thư Vú Quốc gia, cho biết Úc có tỉ lệ phụ nữ sống sót sau điều trị ung thư vú cao.

“Việc chiếu chụp sàng lọc ung thư sớm cùng với kết quả nghiên cứu này đã được chứng tỏ việc này thực sự có tác dụng tích cực”, bà Renouf nhận xét.

Tại Úc, việc xét nghiệm kiểm tra vú cho phụ nữ bắt đầu vào lứa tuổi 50 và theo bà Carole Renouf, vấn đề này vẫn còn gây nhiều tranh cãi.

“Ở một số nước, người ta khuyến cáo bắt đầu xét nghiệm ở lứa tuổi 40. Vấn đề này còn nhiều tranh luận mặc dù mọi người nhận thấy tỉ lệ phụ nữ trẻ mắc bệnh ung thư vú rất nhỏ”, bà Renouf nói.

Phụ nữ Úc không được khuyến khích xét nghiệm sàng lọc ung thư vú cho đến khi họ bước vào lứa tuổi ngũ tuần. Liệu kết quả nghiên cứu có ảnh hưởng tới chính sách này hay không?

Bà Carole Renouf cho rằng chính sách dựa vào những kiến thức hiện tại khá hợp lý. Mọi người cần lưu ý đến chi phí và phân tích lợi ích cũng như rủi ro. Bà Renouf nhận định chương trình sàng lọc hiện nay ở Úc cho kết quả tích cực và phù hợp.

Giám đốc Viện nghiên cứu Ung thư Vú Westmead tại Sydney, giáo sư John Boyages, cho biết ông muốn Chính phủ Liên bang mở rộng chương trình sàng lọc phát hiện ung thư sớm hướng mục tiêu vào cả đối tượng phụ nữ ít tuổi hơn.

Chính phủ đã từng được yêu cầu xem xét đề nghị này trong một báo cáo thẩm định chương trình hai năm trước đây.

Theo giáo sư John Boyages cho biết, báo cáo hiện vẫn đang nằm trên bàn. Ông muốn khuyến nghị Chính phủ Liên bang xem xét đề nghị trên và đầu tư cho chương trình.

Giáo sư Boyages cho rằng chính phủ có thể kết hợp đưa các cơ sở xét nghiệm chất lượng cao trên khắp nước Úc tham gia vào chương trình sàng lọc ung thư vú.
Read more…